Thư cổ đông Berkshire Hathaway năm 1979
Lợi nhuận hoạt động bằng 18,6% vốn đầu năm, giá trị sổ sách mỗi cổ phiếu từ 19,46 USD năm 1964 lên 335,85 USD, kế toán mới ghi cổ phiếu theo giá thị trường.
Dịch từ bản gốc tại berkshirehathaway.com, phục vụ học tập, phi thương mại. Bản gốc: berkshirehathaway.com/letters/1979.html.
Đoạn gốc tiếng Anh ở trên, bản dịch tiếng Việt ở dưới. Khi hai bản khác nhau, bản gốc là căn cứ.
To the Shareholders of Berkshire Hathaway Inc.:
Gửi các cổ đông của Berkshire Hathaway Inc.:
Again, we must lead off with a few words about accounting. Since our last annual report, the accounting profession has decided that equity securities owned by insurance companies must be carried on the balance sheet at market value. We previously have carried such equity securities at the lower of aggregate cost or aggregate market value. Because we have large unrealized gains in our insurance equity holdings, the result of this new policy is to increase substantially both the 1978 and 1979 yearend net worth, even after the appropriate liability is established for taxes on capital gains that would be payable should equities be sold at such market valuations.
Một lần nữa, chúng tôi phải mở đầu bằng đôi lời về kế toán. Kể từ báo cáo thường niên gần nhất của chúng ta, giới kế toán đã quyết định rằng chứng khoán vốn (equity securities) do các công ty bảo hiểm sở hữu phải được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán theo giá trị thị trường. Trước đây, chúng ta ghi nhận các chứng khoán vốn như vậy theo giá thấp hơn giữa tổng giá gốc và tổng giá thị trường (lower of aggregate cost or aggregate market value). Do chúng ta có khoản lãi chưa thực hiện (unrealized gains) lớn trong các khoản nắm giữ cổ phiếu của mảng bảo hiểm, kết quả của chính sách mới này là làm tăng đáng kể giá trị tài sản ròng (net worth) cuối năm của cả năm 1978 lẫn năm 1979, ngay cả sau khi đã ghi nhận khoản nợ phải trả thích đáng cho số thuế đánh trên lãi vốn (capital gains) sẽ phải nộp nếu các cổ phiếu được bán ra ở mức định giá thị trường như vậy.
As you know, Blue Chip Stamps, our 60% owned subsidiary, is fully consolidated in Berkshire Hathaway’s financial statements. However, Blue Chip still is required to carry its equity investments at the lower of aggregate cost or aggregate market value, just as Berkshire Hathaway’s insurance subsidiaries did prior to this year. Should the same equities be purchased at an identical price by an insurance subsidiary of Berkshire Hathaway and by Blue Chip Stamps, present accounting principles often would require that they end up carried on our consolidated balance sheet at two different values. (That should keep you on your toes.) Market values of Blue Chip Stamps’ equity holdings are given in footnote 3 on page 18.
Như các bạn đã biết, Blue Chip Stamps, công ty con mà chúng ta sở hữu 60%, được hợp nhất toàn bộ (fully consolidated) trong báo cáo tài chính của Berkshire Hathaway. Tuy nhiên, Blue Chip vẫn được yêu cầu ghi nhận các khoản đầu tư cổ phiếu của mình theo giá thấp hơn giữa tổng giá gốc và tổng giá thị trường, đúng như các công ty con bảo hiểm của Berkshire Hathaway đã làm trước năm nay. Nếu cùng những cổ phiếu đó được một công ty con bảo hiểm của Berkshire Hathaway và Blue Chip Stamps mua ở cùng một mức giá y hệt nhau, các nguyên tắc kế toán hiện hành thường sẽ đòi hỏi rốt cuộc chúng được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán hợp nhất của chúng ta theo hai giá trị khác nhau. (Điều đó sẽ giữ cho các bạn luôn phải tỉnh táo.) Giá trị thị trường của các khoản nắm giữ cổ phiếu của Blue Chip Stamps được trình bày ở chú thích 3, trang 18.
1979 Operating Results
Kết quả hoạt động năm 1979
We continue to feel that the ratio of operating earnings (before securities gains or losses) to shareholders’ equity with all securities valued at cost is the most appropriate way to measure any single year’s operating performance.
Chúng tôi tiếp tục cho rằng tỷ lệ giữa lợi nhuận hoạt động (operating earnings) – trước lãi hoặc lỗ chứng khoán – và vốn chủ sở hữu (shareholders’ equity) với toàn bộ chứng khoán tính theo giá gốc là cách thích hợp nhất để đo lường kết quả hoạt động của bất kỳ một năm riêng lẻ nào.
Measuring such results against shareholders’ equity with securities valued at market could significantly distort the operating performance percentage because of wide year‐to‐year market value changes in the net worth figure that serves as the denominator. For example, a large decline in securities values could result in a very low “market value” net worth that, in turn, could cause mediocre operating earnings to look unrealistically good. Alternatively, the more successful that equity investments have been, the larger the net worth base becomes and the poorer the operating performance figure appears. Therefore, we will continue to report operating performance measured against beginning net worth, with securities valued at cost.
Việc đo lường các kết quả như vậy so với vốn chủ sở hữu với chứng khoán tính theo giá thị trường có thể làm méo mó đáng kể tỷ lệ phần trăm kết quả hoạt động, do những thay đổi lớn giữa năm này với năm khác về giá trị thị trường trong con số giá trị tài sản ròng đóng vai trò mẫu số. Ví dụ, một đợt sụt giảm lớn về giá trị chứng khoán có thể dẫn đến một giá trị tài sản ròng theo “giá trị thị trường” rất thấp, và đến lượt mình, điều đó có thể khiến lợi nhuận hoạt động tầm thường trông tốt một cách phi thực tế. Ngược lại, các khoản đầu tư cổ phiếu càng thành công thì nền giá trị tài sản ròng càng lớn và con số kết quả hoạt động càng trông kém đi. Vì vậy, chúng tôi sẽ tiếp tục báo cáo kết quả hoạt động được đo lường so với giá trị tài sản ròng đầu kỳ, với chứng khoán tính theo giá gốc.
On this basis, we had a reasonably good operating performance in 1979 ‐ but not quite as good as that of 1978 ‐ with operating earnings amounting to 18.6% of beginning net worth. Earnings per share, of course, increased somewhat (about 20%) but we regard this as an improper figure upon which to focus. We had substantially more capital to work within 1979 than in 1978, and our performance in utilizing that capital fell short of the earlier year, even though per‐share earnings rose. “Earnings per share” will rise constantly on a dormant savings account or on a U.S. Savings Bond bearing a fixed rate of return simply because “earnings” (the stated interest rate) are continuously plowed back and added to the capital base. Thus, even a “stopped clock” can look like a growth stock if the dividend payout ratio is low.
Trên cơ sở này, chúng ta đã có kết quả hoạt động tương đối tốt trong năm 1979 ‐ nhưng chưa hẳn tốt bằng năm 1978 ‐ với lợi nhuận hoạt động bằng 18,6% giá trị tài sản ròng đầu kỳ. Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (Earnings per share), dĩ nhiên, đã tăng phần nào (khoảng 20%) nhưng chúng tôi coi đây là một con số không thích hợp để tập trung vào. Chúng ta có nhiều vốn hơn đáng kể để làm việc trong năm 1979 so với năm 1978, và kết quả của chúng ta trong việc sử dụng số vốn đó đã kém hơn năm trước, mặc dù lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu tăng. “Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu” sẽ tăng liên tục đối với một tài khoản tiết kiệm nằm im hay đối với một trái phiếu tiết kiệm Mỹ (U.S. Savings Bond) mang tỷ suất sinh lời cố định, đơn giản vì “lợi nhuận” (lãi suất được công bố) liên tục được tái đầu tư và cộng vào nền vốn. Do đó, ngay cả một “chiếc đồng hồ chết” cũng có thể trông giống một cổ phiếu tăng trưởng nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp.
The primary test of managerial economic performance is the achievement of a high earnings rate on equity capital employed (without undue leverage, accounting gimmickry, etc.) and not the achievement of consistent gains in earnings per share. In our view, many businesses would be better understood by their shareholder owners, as well as the general public, if anagements and financial analysts modified the primary emphasis they place upon earnings per share, and upon yearly changes in that figure.
Phép thử chính đối với thành tích kinh tế của ban quản lý là việc đạt được tỷ suất lợi nhuận cao trên vốn chủ sở hữu sử dụng (equity capital employed) (mà không dùng đòn bẩy (leverage) quá mức, thủ thuật kế toán, v.v.) chứ không phải việc đạt được mức tăng đều đặn của lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu. Theo quan điểm của chúng tôi, nhiều doanh nghiệp sẽ được chính các cổ đông chủ sở hữu của mình, cũng như công chúng nói chung, hiểu rõ hơn nếu các ban quản lý và các nhà phân tích tài chính điều chỉnh sự nhấn mạnh chủ yếu mà họ đặt vào lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu, và vào những thay đổi hằng năm của con số đó.
Long Term Results
Kết quả dài hạn
In measuring long term economic performance ‐ in contrast to yearly performance ‐ we believe it is appropriate to recognize fully any realized capital gains or losses as well as extraordinary items, and also to utilize financial statements presenting equity securities at market value. Such capital gains or losses, either realized or unrealized, are fully as important to shareholders over a period of years as earnings realized in a more routine manner through operations; it is just that their impact is often extremely capricious in the short run, a characteristic that makes them inappropriate as an indicator of single year managerial performance.
Khi đo lường thành tích kinh tế dài hạn ‐ trái với thành tích hằng năm ‐ chúng tôi tin rằng việc ghi nhận đầy đủ mọi khoản lãi vốn đã thực hiện (realized capital gains) hoặc lỗ vốn đã thực hiện cũng như các khoản mục bất thường (extraordinary items), đồng thời sử dụng báo cáo tài chính trình bày chứng khoán vốn theo giá trị thị trường, là thích hợp. Những khoản lãi vốn hoặc lỗ vốn như vậy, dù đã thực hiện hay chưa thực hiện, đều quan trọng không kém đối với cổ đông qua một khoảng thời gian nhiều năm so với lợi nhuận thu được theo cách thường lệ hơn thông qua hoạt động kinh doanh; chỉ có điều là tác động của chúng thường cực kỳ thất thường trong ngắn hạn, một đặc điểm khiến chúng không thích hợp làm thước đo thành tích của ban quản lý trong một năm riêng lẻ.
The book value per share of Berkshire Hathaway on September 30, 1964 (the fiscal yearend prior to the time that your present management assumed responsibility) was $19.46 per share. At yearend 1979, book value with equity holdings carried at market value was $335.85 per share. The gain in book value comes to 20.5% compounded annually. This figure, of course, is far higher than any average of our yearly operating earnings calculations, and reflects the importance of capital appreciation of insurance equity investments in determining the overall results for our shareholders. It probably also is fair to say that the quoted book value in 1964 somewhat overstated the intrinsic value of the enterprise, since the assets owned at that time on either a going concern basis or a liquidating value basis were not worth 100 cents on the dollar. (The liabilities were solid, however.)
Giá trị sổ sách (book value) trên mỗi cổ phiếu của Berkshire Hathaway vào ngày 30 tháng 9 năm 1964 (cuối năm tài chính ngay trước thời điểm ban quản lý hiện tại của các bạn nhận trách nhiệm) là 19,46 USD mỗi cổ phiếu. Vào cuối năm 1979, giá trị sổ sách với các khoản nắm giữ cổ phiếu ghi nhận theo giá trị thị trường là 335,85 USD mỗi cổ phiếu. Mức tăng giá trị sổ sách tương đương tốc độ tăng trưởng kép hằng năm 20,5%. Con số này, dĩ nhiên, cao hơn rất nhiều so với bất kỳ mức bình quân nào của các phép tính lợi nhuận hoạt động hằng năm của chúng ta, và phản ánh tầm quan trọng của phần tăng giá vốn của các khoản đầu tư cổ phiếu của mảng bảo hiểm trong việc quyết định kết quả tổng thể cho cổ đông của chúng ta. Có lẽ cũng công bằng khi nói rằng giá trị sổ sách được công bố năm 1964 đã phần nào phóng đại giá trị nội tại (intrinsic value) của doanh nghiệp, vì tài sản sở hữu vào thời điểm đó, dù xét trên cơ sở hoạt động liên tục (going concern) hay trên cơ sở giá trị thanh lý (liquidating value), đều không đáng 100 xu trên một đô la. (Tuy nhiên, các khoản nợ phải trả thì lại hoàn toàn chắc chắn.)
We have achieved this result while utilizing a low amount of leverage (both financial leverage measured by debt to equity, and operating leverage measured by premium volume to capital funds of our insurance business), and also without significant issuance or repurchase of shares. Basically, we have worked with the capital with which we started. From our textile base we, or our Blue Chip and Wesco subsidiaries, have acquired total ownership of thirteen businesses through negotiated purchases from private owners for cash, and have started six others. (It’s worth a mention that those who have sold to us have, almost without exception, treated us with exceptional honor and fairness, both at the time of sale and subsequently.)
Chúng ta đã đạt được kết quả này trong khi sử dụng một mức đòn bẩy thấp (cả đòn bẩy tài chính (financial leverage) đo bằng hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu (debt to equity), lẫn đòn bẩy hoạt động (operating leverage) đo bằng tỷ lệ doanh thu phí bảo hiểm trên vốn của mảng kinh doanh bảo hiểm của chúng ta), và cũng không phát hành hay mua lại (repurchase) cổ phiếu ở mức đáng kể. Về cơ bản, chúng ta đã làm việc với số vốn mà chúng ta có lúc khởi đầu. Từ nền tảng dệt may của mình, chúng ta, hoặc các công ty con Blue Chip và Wesco của chúng ta, đã mua lại toàn bộ quyền sở hữu mười ba doanh nghiệp thông qua các thương vụ mua qua thương lượng bằng tiền mặt từ các chủ sở hữu tư nhân, và đã thành lập sáu doanh nghiệp khác. (Cũng đáng nhắc đến rằng những người đã bán doanh nghiệp cho chúng ta, hầu như không có ngoại lệ, đã đối xử với chúng ta bằng sự chính trực và công bằng đặc biệt, cả vào thời điểm bán lẫn về sau.)
But before we drown in a sea of self‐congratulation, a further ‐ and crucial ‐ observation must be made. A few years ago, a business whose per‐share net worth compounded at 20% annually would have guaranteed its owners a highly successful real investment return. Now such an outcome seems less certain. For the inflation rate, coupled with individual tax rates, will be the ultimate determinant as to whether our internal operating performance produces successful investment results ‐ i.e., a reasonable gain in purchasing power from funds committed ‐ for you as shareholders.
Nhưng trước khi chúng ta chìm đắm trong biển tự chúc mừng, cần phải đưa ra một nhận xét nữa ‐ và mang tính then chốt. Cách đây vài năm, một doanh nghiệp có giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu tăng trưởng kép 20% mỗi năm sẽ bảo đảm cho các chủ sở hữu của mình một lợi suất đầu tư thực rất thành công. Giờ đây, một kết quả như vậy có vẻ kém chắc chắn hơn. Bởi lẽ tỷ lệ lạm phát, cùng với thuế suất thuế thu nhập cá nhân, sẽ là yếu tố quyết định sau cùng xem liệu kết quả hoạt động nội bộ của chúng ta có tạo ra kết quả đầu tư thành công ‐ tức là một mức tăng sức mua hợp lý từ số vốn đã bỏ ra ‐ cho các bạn với tư cách cổ đông hay không.
Just as the original 3% savings bond, a 5% passbook savings account or an 8% U.S. Treasury Note have, in turn, been transformed by inflation into financial instruments that chew up, rather than enhance, purchasing power over their investment lives, a business earning 20% on capital can produce a negative real return for its owners under inflationary conditions not much more severe than presently prevail.
Cũng như trái phiếu tiết kiệm 3% thời ban đầu, một tài khoản tiết kiệm có sổ 5% hay một trái phiếu Kho bạc Mỹ trung hạn (U.S. Treasury Note) 8% đã lần lượt bị lạm phát biến thành những công cụ tài chính gặm nhấm, thay vì gia tăng, sức mua trong suốt vòng đời đầu tư của chúng, một doanh nghiệp kiếm được 20% trên vốn có thể tạo ra lợi suất thực âm cho các chủ sở hữu của mình trong điều kiện lạm phát không khắc nghiệt hơn bao nhiêu so với hiện nay.
If we should continue to achieve a 20% compounded gain ‐ not an easy or certain result by any means ‐ and this gain is translated into a corresponding increase in the market value of Berkshire Hathaway stock as it has been over the last fifteen years, your after‐tax purchasing power gain is likely to be very close to zero at a 14% inflation rate. Most of the remaining six percentage points will go for income tax any time you wish to convert your twenty percentage points of nominal annual gain into cash.
Nếu chúng ta tiếp tục đạt được mức tăng trưởng kép 20% ‐ hoàn toàn không phải là một kết quả dễ dàng hay chắc chắn ‐ và mức tăng này được chuyển thành mức tăng tương ứng trong giá trị thị trường của cổ phiếu Berkshire Hathaway như đã diễn ra trong mười lăm năm qua, thì mức tăng sức mua sau thuế của các bạn nhiều khả năng sẽ rất gần bằng không với tỷ lệ lạm phát 14%. Phần lớn sáu điểm phần trăm còn lại sẽ dành cho thuế thu nhập bất cứ khi nào các bạn muốn chuyển hai mươi điểm phần trăm mức tăng danh nghĩa hằng năm của mình thành tiền mặt.
That combination ‐ the inflation rate plus the percentage of capital that must be paid by the owner to transfer into his own pocket the annual earnings achieved by the business (i.e., ordinary income tax on dividends and capital gains tax on retained earnings) ‐ can be thought of as an “investor’s misery index”. When this index exceeds the rate of return earned on equity by the business, the investor’s purchasing power (real capital) shrinks even though he consumes nothing at all. We have no corporate solution to this problem; high inflation rates will not help us earn higher rates of return on equity.
Sự kết hợp đó ‐ tỷ lệ lạm phát cộng với tỷ lệ phần trăm vốn mà chủ sở hữu phải nộp để chuyển vào túi riêng của mình phần lợi nhuận hằng năm mà doanh nghiệp đạt được (tức là thuế đánh trên thu nhập thông thường (ordinary income) đối với cổ tức và thuế lãi vốn đối với lợi nhuận giữ lại (retained earnings)) ‐ có thể được xem như một “chỉ số khốn khổ của nhà đầu tư (investor’s misery index)”. Khi chỉ số này vượt quá tỷ suất sinh lời mà doanh nghiệp kiếm được trên vốn chủ sở hữu, sức mua của nhà đầu tư (vốn thực) bị thu hẹp ngay cả khi người đó không tiêu dùng gì cả. Chúng tôi không có giải pháp nào ở cấp công ty cho vấn đề này; tỷ lệ lạm phát cao sẽ không giúp chúng ta kiếm được tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (return on equity) cao hơn.
One friendly but sharp‐eyed commentator on Berkshire has pointed out that our book value at the end of 1964 would have bought about one‐half ounce of gold and, fifteen years later, after we have plowed back all earnings along with much blood, sweat and tears, the book value produced will buy about the same half ounce. A similar comparison could be drawn with Middle Eastern oil. The rub has been that government has been exceptionally able in printing money and creating promises, but is unable to print gold or create oil.
Một nhà bình luận thân thiện nhưng tinh mắt về Berkshire đã chỉ ra rằng giá trị sổ sách của chúng ta vào cuối năm 1964 có thể mua được khoảng nửa ounce vàng và, mười lăm năm sau, sau khi chúng ta đã tái đầu tư toàn bộ lợi nhuận cùng với biết bao máu, mồ hôi và nước mắt, giá trị sổ sách tạo ra sẽ mua được cũng khoảng nửa ounce ấy. Một phép so sánh tương tự có thể được rút ra với dầu mỏ Trung Đông. Cái khó là chính phủ đã đặc biệt giỏi in tiền và tạo ra những lời hứa, nhưng lại không thể in ra vàng hay tạo ra dầu.
We intend to continue to do as well as we can in managing the internal affairs of the business. But you should understand that external conditions affecting the stability of currency may very well be the most important factor in determining whether there are any real rewards from your investment in Berkshire Hathaway.
Chúng tôi dự định tiếp tục làm tốt hết mức có thể trong việc quản lý các công việc nội bộ của doanh nghiệp. Nhưng các bạn cần hiểu rằng những điều kiện bên ngoài ảnh hưởng đến sự ổn định của tiền tệ rất có thể là yếu tố quan trọng nhất quyết định liệu có bất kỳ phần thưởng thực nào từ khoản đầu tư của các bạn vào Berkshire Hathaway hay không.
Sources of Earnings
Các nguồn lợi nhuận
We again present a table showing the sources of Berkshire’s earnings. As explained last year, Berkshire owns about 60% of Blue Chip Stamps which, in turn, owns 80% of Wesco Financial Corporation. The table shows both aggregate earnings of the various business entities, as well as Berkshire’s share. All of the significant capital gains or losses attributable to any of the business entities are aggregated in the realized securities gain figure at the bottom of the table, and are not included in operating earnings.
Một lần nữa chúng tôi trình bày một bảng cho thấy các nguồn lợi nhuận của Berkshire. Như đã giải thích năm ngoái, Berkshire sở hữu khoảng 60% Blue Chip Stamps, công ty này đến lượt mình sở hữu 80% Wesco Financial Corporation. Bảng này thể hiện cả tổng lợi nhuận của các đơn vị kinh doanh khác nhau, cũng như phần của Berkshire. Toàn bộ các khoản lãi vốn hoặc lỗ vốn đáng kể có thể quy cho bất kỳ đơn vị kinh doanh nào đều được gộp vào con số lãi chứng khoán đã thực hiện ở cuối bảng, và không được tính vào lợi nhuận hoạt động.
Earnings Before Income Taxes Net Earnings After Tax
Total Total Berkshire Share Berkshire Share
000’s of $’s 1979 1978 1979 1978 1979 1978
Total – All entities $68,632 $66,180 $54,350 $54,350 $39,242 $39,242
Earnings from
Operations:
$3,742 $3,001 $3,741 $3,000 $2,214 $1,560
Insurance Group:
Underwriting
Net investment income $24,224 $19,705 $24,216 $19,691 $20,106 $16,400
Berkshire Waumbec
$1,723 $2,916 $1,723 $2,916 $848 $1,342
Textiles
Associated Retail
$2,775 $2,757 $2,775 $2,757 $1,280 $1,176
Stores, Inc
See’s Candies $12,785 $12,482 $7,598 $7,013 $3,448 $3,049
Buffalo Evening News (4,617) ($2,913) (2,744) ($1,637) ($1,333) ($738)
Blue Chip Stamps ‐
$2,397 $2,133 $1,425 $1,198 $1,624 $1,382
Parent
Illinois National Bank
$5,747 $4,822 $5,614 $4,710 $5,027 $4,262
and Trust Company
Wesco Financial
$2,413 $1,771 $1,098 $777 $937 $665
Corporation – Parent
Mutual Savings and
$10,447 $10,556 $4,751 $4,638 $3,261 $3,042
Loan Association
Precision Steel $3,254 ‐ $1,480 ‐ $723 ‐
Interest on Debt ($8,248) ($5,566) ($5,860) ($4,546) ($2,900) ($2,349)
Other $1,342 $720 $996 $438 $753 $261
Total Earnings from
$57,984 $52,384 $46,813 $40,955 $35,988 $30,052
Operations
Realized Securities Gain $10,648 $13,796 $9,614 $13,395 $6,829 $9,190
Total Earnings $68,632 $66,180 $56,427 $42,234 $42,817 $30,393
Lợi nhuận trước thuế TNDN Lợi nhuận ròng sau thuế
Tổng Tổng Phần của Berkshire Phần của Berkshire
(nghìn USD, lược 000) 1979 1978 1979 1978 1979 1978
Tổng – Toàn bộ các đơn vị $68.632 $66.180 $54.350 $54.350 $39.242 $39.242
Lợi nhuận từ
hoạt động:
$3.742 $3.001 $3.741 $3.000 $2.214 $1.560
Khối Bảo hiểm:
Nghiệp vụ bảo hiểm
Thu nhập đầu tư ròng $24.224 $19.705 $24.216 $19.691 $20.106 $16.400
Berkshire Waumbec
$1.723 $2.916 $1.723 $2.916 $848 $1.342
Dệt may
Associated Retail
$2.775 $2.757 $2.775 $2.757 $1.280 $1.176
Stores, Inc
See’s Candies $12.785 $12.482 $7.598 $7.013 $3.448 $3.049
Buffalo Evening News (4.617) ($2.913) (2.744) ($1.637) ($1.333) ($738)
Blue Chip Stamps ‐
$2.397 $2.133 $1.425 $1.198 $1.624 $1.382
công ty mẹ
Illinois National Bank
$5.747 $4.822 $5.614 $4.710 $5.027 $4.262
and Trust Company
Wesco Financial
$2.413 $1.771 $1.098 $777 $937 $665
Corporation – công ty mẹ
Mutual Savings and
$10.447 $10.556 $4.751 $4.638 $3.261 $3.042
Loan Association
Precision Steel $3.254 ‐ $1.480 ‐ $723 ‐
Lãi vay ($8.248) ($5.566) ($5.860) ($4.546) ($2.900) ($2.349)
Khác $1.342 $720 $996 $438 $753 $261
Tổng lợi nhuận từ
$57.984 $52.384 $46.813 $40.955 $35.988 $30.052
hoạt động
Lãi CK đã thực hiện $10.648 $13.796 $9.614 $13.395 $6.829 $9.190
Tổng lợi nhuận $68.632 $66.180 $56.427 $42.234 $42.817 $30.393
Blue Chip and Wesco are public companies with reporting requirements of their own. On pages 37‐43 of this report, we have reproduced the narrative reports of the principal executives of both companies, in which they describe 1979 operations. Some of the numbers they mention in their reports are not precisely identical to those in the above table because of accounting and tax complexities. (The Yanomamo Indians employ only three numbers: one, two, and more than two. Maybe their time will come.) However, the commentary in those reports should be helpful to you in understanding the underlying economic characteristics and future prospects of the important businesses that they manage.
Blue Chip và Wesco là các công ty đại chúng với các yêu cầu báo cáo riêng của mình. Ở các trang 37‐43 của báo cáo này, chúng tôi đã in lại các báo cáo tường thuật của những người điều hành chính của cả hai công ty, trong đó họ mô tả hoạt động năm 1979. Một số con số mà họ nêu trong báo cáo của mình không hoàn toàn trùng khớp với các con số trong bảng trên do những phức tạp về kế toán và thuế. (Người da đỏ Yanomamo chỉ dùng ba con số: một, hai, và nhiều hơn hai. Có lẽ thời của họ sẽ đến.) Tuy nhiên, phần bình luận trong các báo cáo đó được kỳ vọng sẽ hữu ích cho các bạn trong việc hiểu các đặc điểm kinh tế nền tảng và triển vọng tương lai của những doanh nghiệp quan trọng mà họ quản lý.
A copy of the full annual report of either company will be mailed to any shareholder of Berkshire upon request to Mr. Robert H. Bird for Blue Chip Stamps, 5801 South Eastern Avenue, Los Angeles, California 90040, or to Mrs. Bette Deckard for Wesco Financial Corporation, 315 East Colorado Boulevard, Pasadena, California 91109.
Bản sao báo cáo thường niên đầy đủ của một trong hai công ty sẽ được gửi qua đường bưu điện cho bất kỳ cổ đông nào của Berkshire khi có yêu cầu gửi tới ông Robert H. Bird đối với Blue Chip Stamps, 5801 South Eastern Avenue, Los Angeles, California 90040, hoặc tới bà Bette Deckard đối với Wesco Financial Corporation, 315 East Colorado Boulevard, Pasadena, California 91109.
Textiles and Retailing
Dệt may và bán lẻ
The relative significance of these two areas has diminished somewhat over the years as our insurance business has grown dramatically in size and earnings. Ben Rosner, at Associated Retail Stores, continues to pull rabbits out of the hat ‐ big rabbits from a small hat. Year after year, he produces very large earnings relative to capital employed ‐ realized in cash and not in increased receivables and inventories as in many other retail businesses ‐ in a segment of the market with little growth and unexciting demographics. Ben is now 76 and, like our other “up‐and‐comers”, Gene Abegg, 82, at Illinois National and Louis Vincenti, 74, at Wesco, regularly achieves more each year.
Tầm quan trọng tương đối của hai lĩnh vực này đã giảm đi phần nào qua các năm khi mảng kinh doanh bảo hiểm của chúng ta tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô và lợi nhuận. Ben Rosner, tại Associated Retail Stores, tiếp tục lôi thỏ ra từ chiếc mũ ‐ những con thỏ lớn từ một chiếc mũ nhỏ. Năm này qua năm khác, ông ấy tạo ra lợi nhuận rất lớn so với vốn sử dụng ‐ thu về bằng tiền mặt chứ không phải bằng sự gia tăng các khoản phải thu và hàng tồn kho như ở nhiều doanh nghiệp bán lẻ khác ‐ trong một phân khúc thị trường ít tăng trưởng và có đặc điểm nhân khẩu học không mấy hấp dẫn. Ben nay đã 76 tuổi và, giống như những “ngôi sao đang lên” khác của chúng ta, Gene Abegg, 82 tuổi, tại Illinois National và Louis Vincenti, 74 tuổi, tại Wesco, đều đặn đạt được nhiều hơn mỗi năm.
Our textile business also continues to produce some cash, but at a low rate compared to capital employed. This is not a reflection on the managers, but rather on the industry in which they operate. In some businesses ‐ a network TV station, for example ‐ it is virtually impossible to avoid earning extraordinary returns on tangible capital employed in the business. And assets in such businesses sell at equally extraordinary prices, one thousand cents or more on the dollar, a valuation reflecting the splendid, almost unavoidable, economic results obtainable. Despite a fancy price tag, the “easy” business may be the better route to go.
Mảng kinh doanh dệt may của chúng ta cũng tiếp tục tạo ra một ít tiền mặt, nhưng ở mức thấp so với vốn sử dụng. Điều này không nói lên điều gì về các nhà quản lý, mà đúng hơn là về ngành mà họ hoạt động. Trong một số ngành kinh doanh ‐ chẳng hạn một đài truyền hình thuộc mạng lưới (network TV station) ‐ hầu như không thể tránh khỏi việc kiếm được lợi nhuận phi thường trên vốn hữu hình sử dụng trong doanh nghiệp. Và tài sản trong những doanh nghiệp như vậy được bán với mức giá phi thường không kém, một nghìn xu trên một đô la hoặc hơn, một mức định giá phản ánh những kết quả kinh tế tuyệt vời, gần như không thể tránh khỏi, có thể đạt được. Bất chấp mức giá đắt đỏ, doanh nghiệp “dễ” có thể là con đường tốt hơn để đi.
We can speak from experience, having tried the other route. Your Chairman made the decision a few years ago to purchase Waumbec Mills in Manchester, New Hampshire, thereby expanding our textile commitment. By any statistical test, the purchase price was an extraordinary bargain; we bought well below the working capital of the business and, in effect, got very substantial amounts of machinery and real estate for less than nothing. But the purchase was a mistake. While we labored mightily, new problems arose as fast as old problems were tamed.
Chúng tôi có thể nói từ kinh nghiệm, vì đã thử con đường kia. Chủ tịch của các bạn, cách đây vài năm, đã ra quyết định mua Waumbec Mills ở Manchester, New Hampshire, qua đó mở rộng khoản đầu tư vào dệt may của chúng ta. Xét theo bất kỳ phép thử thống kê nào, giá mua là một món hời phi thường; chúng ta đã mua với giá thấp hơn nhiều so với vốn lưu động (working capital) của doanh nghiệp và, về thực chất, đã có được một lượng rất lớn máy móc và bất động sản với giá còn thấp hơn cả số không. Nhưng thương vụ mua đó là một sai lầm. Trong khi chúng ta lao động cật lực, những vấn đề mới phát sinh nhanh chẳng kém tốc độ những vấn đề cũ được thuần phục.
Both our operating and investment experience cause us to conclude that “turnarounds” seldom turn, and that the same energies and talent are much better employed in a good business purchased at a fair price than in a poor business purchased at a bargain price. Although a mistake, the Waumbec acquisition has not been a disaster. Certain portions of the operation are proving to be valuable additions to our decorator line (our strongest franchise) at New Bedford, and it’s possible that we may be able to run profitably on a considerably reduced scale at Manchester. However, our original rationale did not prove out.
Cả kinh nghiệm hoạt động lẫn kinh nghiệm đầu tư của chúng tôi đều khiến chúng tôi đi đến kết luận rằng các “doanh nghiệp cần xoay chuyển (turnarounds)” hiếm khi xoay chuyển được, và rằng cùng một nguồn năng lượng và tài năng như vậy sẽ được sử dụng hiệu quả hơn nhiều vào một doanh nghiệp tốt mua với giá hợp lý so với vào một doanh nghiệp kém mua với giá hời. Dù là một sai lầm, thương vụ mua lại Waumbec chưa phải là một thảm họa. Một số bộ phận của hoạt động này đang tỏ ra là những bổ sung có giá trị cho dòng sản phẩm trang trí nội thất (decorator line) của chúng ta (dòng sản phẩm có vị thế vững nhất (franchise) của chúng ta) tại New Bedford, và có khả năng chúng ta có thể hoạt động có lãi với quy mô thu hẹp đáng kể tại Manchester. Tuy nhiên, lập luận ban đầu của chúng tôi đã không được chứng minh là đúng.
Insurance Underwriting
Nghiệp vụ bảo hiểm
We predicted last year that the combined underwriting ratio (see definition on page 36) for the insurance industry would “move up at least a few points, perhaps enough to throw the industry as a whole into an underwriting loss position”. That is just about the way it worked out. The industry underwriting ratio rose in 1979 over three points, from roughly 97.4% to 100.7%. We also said that we thought our underwriting performance relative to the industry would improve somewhat in 1979 and, again, things worked out as expected. Our own underwriting ratio actually decreased from 98.2% to 97.1%. Our forecast for 1980 is similar in one respect; again we feel that the industry’s performance will worsen by at least another few points. However, this year we have no reason to think that our performance relative to the industry will further improve. (Don’t worry ‐ we won’t hold back to try to validate that forecast.)
Năm ngoái chúng tôi đã dự báo rằng tỷ lệ kết hợp của nghiệp vụ bảo hiểm (combined underwriting ratio; xem định nghĩa ở trang 36) của ngành bảo hiểm sẽ “tăng lên ít nhất vài điểm, có lẽ đủ để đẩy toàn ngành vào tình trạng lỗ nghiệp vụ bảo hiểm”. Mọi chuyện đã diễn ra gần đúng như vậy. Tỷ lệ nghiệp vụ bảo hiểm của ngành đã tăng hơn ba điểm trong năm 1979, từ khoảng 97,4% lên 100,7%. Chúng tôi cũng đã nói rằng chúng tôi cho rằng kết quả nghiệp vụ bảo hiểm của chúng ta so với ngành sẽ cải thiện phần nào trong năm 1979 và, một lần nữa, mọi việc đã diễn ra như dự kiến. Tỷ lệ nghiệp vụ bảo hiểm của chính chúng ta thực tế đã giảm từ 98,2% xuống 97,1%. Dự báo của chúng tôi cho năm 1980 cũng tương tự ở một khía cạnh; một lần nữa chúng tôi cho rằng kết quả của ngành sẽ xấu đi thêm ít nhất vài điểm nữa. Tuy nhiên, năm nay chúng tôi không có lý do gì để nghĩ rằng kết quả của chúng ta so với ngành sẽ cải thiện thêm. (Đừng lo ‐ chúng tôi sẽ không cố tình chùn tay để chứng minh dự báo đó là đúng.)
Really extraordinary results were turned in by the portion of National Indemnity Company’s insurance operation run by Phil Liesche. Aided by Roland Miller in Underwriting and Bill Lyons in Claims, this section of the business produced an underwriting profit of $8.4 million on about $82 million of earned premiums. Only a very few companies in the entire industry produced a result comparable to this.
Bộ phận hoạt động bảo hiểm của National Indemnity Company do Phil Liesche điều hành đã đem lại những kết quả thực sự phi thường. Với sự hỗ trợ của Roland Miller ở bộ phận Nghiệp vụ bảo hiểm và Bill Lyons ở bộ phận Bồi thường, mảng kinh doanh này đã tạo ra lãi nghiệp vụ bảo hiểm 8,4 triệu USD trên khoảng 82 triệu USD phí bảo hiểm được hưởng (earned premiums). Chỉ có rất ít công ty trong toàn ngành tạo ra được kết quả sánh được với kết quả này.
You will notice that earned premiums in this segment were down somewhat from those of 1978. We hear a great many insurance managers talk about being willing to reduce volume in order to underwrite profitably, but we find that very few actually do so. Phil Liesche is an exception: if business makes sense, he writes it; if it doesn’t, he rejects it. It is our policy not to lay off people because of the large fluctuations in work load produced by such voluntary volume changes. We would rather have some slack in the organization from time to time than keep everyone terribly busy writing business on which we are going to lose money. Jack Ringwalt, the founder of National Indemnity Company, instilled this underwriting discipline at the inception of the company, and Phil Liesche never has wavered in maintaining it. We believe such strong‐mindedness is as rare as it is sound ‐ and absolutely essential to the running of a first‐class casualty insurance operation.
Các bạn sẽ nhận thấy rằng phí bảo hiểm được hưởng trong mảng này đã giảm phần nào so với năm 1978. Chúng tôi nghe rất nhiều nhà quản lý bảo hiểm nói về việc sẵn sàng giảm doanh thu phí bảo hiểm để nhận bảo hiểm có lãi, nhưng chúng tôi thấy rằng rất ít người thực sự làm như vậy. Phil Liesche là một ngoại lệ: nếu hợp đồng hợp lý, ông ấy khai thác; nếu không, ông ấy từ chối. Chính sách của chúng tôi là không cho nhân viên thôi việc vì những biến động lớn về khối lượng công việc do những thay đổi doanh thu phí bảo hiểm tự nguyện như vậy tạo ra. Chúng tôi thà để tổ chức có phần nhàn rỗi vào những lúc nào đó còn hơn là giữ cho mọi người bận rộn khủng khiếp với việc khai thác hợp đồng bảo hiểm (writing business) mà chúng ta sẽ bị lỗ. Jack Ringwalt, người sáng lập National Indemnity Company, đã gây dựng kỷ luật nhận bảo hiểm này ngay từ khi thành lập công ty, và Phil Liesche chưa bao giờ dao động trong việc duy trì nó. Chúng tôi tin rằng sự cứng rắn như vậy vừa hiếm có vừa đúng đắn ‐ và tuyệt đối cần thiết cho việc điều hành một hoạt động bảo hiểm trách nhiệm hạng nhất.
John Seward continues to make solid progress at Home and Automobile Insurance Company, in large part by significantly expanding the marketing scope of that company in general liability lines. These lines can be dynamite, but the record to date is excellent and, in John McGowan and Paul Springman, we have two cautious liability managers extending our capabilities.
John Seward tiếp tục đạt được tiến bộ vững chắc tại Home and Automobile Insurance Company, phần lớn nhờ mở rộng đáng kể phạm vi tiếp thị của công ty này trong các nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm chung (general liability). Những nghiệp vụ này có thể như thuốc nổ, nhưng thành tích cho đến nay là xuất sắc và, với John McGowan và Paul Springman, chúng ta có hai nhà quản lý nghiệp vụ trách nhiệm thận trọng đang mở rộng năng lực của chúng ta.
Our reinsurance division, led by George Young, continues to give us reasonably satisfactory overall results after allowing for investment income, but underwriting performance remains unsatisfactory. We think the reinsurance business is a very tough business that is likely to get much tougher. In fact, the influx of capital into the business and the resulting softer price levels for continually increasing exposures may well produce disastrous results for many entrants (of which they may be blissfully unaware until they are in over their heads; much reinsurance business involves an exceptionally “long tail”, a characteristic that allows catastrophic current loss experience to fester undetected for many years). It will be hard for us to be a whole lot smarter than the crowd and thus our reinsurance activity may decline substantially during the projected prolonged period of extraordinary competition.
Bộ phận tái bảo hiểm (reinsurance) của chúng ta, do George Young dẫn dắt, tiếp tục mang lại cho chúng ta kết quả tổng thể tương đối thỏa đáng sau khi tính đến thu nhập đầu tư, nhưng kết quả nghiệp vụ bảo hiểm vẫn không thỏa đáng. Chúng tôi cho rằng tái bảo hiểm là một ngành kinh doanh rất khó khăn và nhiều khả năng sẽ còn khó khăn hơn nhiều. Thực tế, dòng vốn đổ vào ngành và các mức giá mềm hơn kéo theo cho những mức rủi ro gánh chịu liên tục tăng rất có thể sẽ tạo ra những kết quả thảm hại cho nhiều người mới gia nhập (điều mà họ có thể hoàn toàn vô tư không hay biết cho đến khi đã lún quá sâu; phần lớn nghiệp vụ tái bảo hiểm có tính chất “đuôi dài (long tail)” đặc biệt rõ rệt, một đặc điểm cho phép diễn biến tổn thất thảm khốc hiện tại âm ỉ mà không bị phát hiện trong nhiều năm). Sẽ khó để chúng ta khôn ngoan hơn đám đông quá nhiều và do đó hoạt động tái bảo hiểm của chúng ta có thể sụt giảm đáng kể trong suốt giai đoạn cạnh tranh phi thường kéo dài như dự kiến.
The Homestate operation was disappointing in 1979. Excellent results again were turned in by George Billings at Texas United Insurance Company, winner of the annual award for the low loss ratio among Homestate companies, and Floyd Taylor at Kansas Fire and Casualty Company. But several of the other operations, particularly Cornhusker Casualty Company, our first and largest Homestate operation and historically a winner, had poor underwriting results which were accentuated by data processing, administrative and personnel problems. We have made some major mistakes in reorganizing our data processing activities, and those mistakes will not be cured immediately or without cost. However, John Ringwalt has thrown himself into the task of getting things straightened out and we have confidence that he, aided by several strong people who recently have been brought aboard, will succeed.
Hoạt động nội bang (Homestate) gây thất vọng trong năm 1979. George Billings tại Texas United Insurance Company, công ty giành giải thưởng hằng năm cho tỷ lệ bồi thường (loss ratio) thấp trong số các công ty nội bang, và Floyd Taylor tại Kansas Fire and Casualty Company một lần nữa đã đạt được kết quả xuất sắc. Nhưng một số hoạt động khác, đặc biệt là Cornhusker Casualty Company, hoạt động nội bang đầu tiên và lớn nhất của chúng ta và xưa nay vẫn là một đơn vị dẫn đầu, đã có kết quả nghiệp vụ bảo hiểm kém khả quan, càng trầm trọng thêm do các vấn đề về xử lý dữ liệu, hành chính và nhân sự. Chúng tôi đã phạm một số sai lầm lớn trong việc tổ chức lại các hoạt động xử lý dữ liệu, và những sai lầm đó sẽ không được khắc phục ngay lập tức, cũng không phải không tốn kém. Tuy nhiên, John Ringwalt đã dốc toàn lực vào nhiệm vụ chấn chỉnh mọi việc và chúng tôi tin tưởng rằng ông ấy, với sự hỗ trợ của một số người giỏi mới được đưa về gần đây, sẽ thành công.
Our performance in Worker’s Compensation was far, far better than we had any right to expect at the beginning of 1979. We had a very favorable climate in California for the achievement of good results but, beyond this, Milt Thornton at Cypress Insurance Company and Frank DeNardo at National Indemnity’s California Worker’s Compensation operation both performed in a simply outstanding manner. We have admitted ‐ and with good reason ‐ some mistakes on the acquisition front, but the Cypress purchase has turned out to be an absolute gem. Milt Thornton, like Phil Liesche, follows the policy of sticking with business that he understands and wants, without giving consideration to the impact on volume. As a result, he has an outstanding book of business and an exceptionally well‐functioning group of employees. Frank DeNardo has straightened out the mess he inherited in Los Angeles in a manner far beyond our expectations, producing savings measured in seven figures. He now can begin to build on a sound base.
Kết quả của chúng ta trong mảng bảo hiểm bồi thường cho người lao động (Worker’s Compensation) tốt hơn rất, rất nhiều so với bất cứ điều gì chúng ta có quyền kỳ vọng vào đầu năm 1979. Chúng ta đã có một môi trường rất thuận lợi tại California để đạt được kết quả tốt nhưng, ngoài điều đó ra, Milt Thornton tại Cypress Insurance Company và Frank DeNardo tại hoạt động bảo hiểm bồi thường cho người lao động ở California của National Indemnity đều đã làm việc theo một cách thực sự xuất sắc. Chúng tôi đã thừa nhận ‐ và có lý do chính đáng ‐ một số sai lầm trên mặt trận mua lại doanh nghiệp, nhưng thương vụ mua Cypress đã hóa ra là một viên ngọc quý thực sự. Milt Thornton, cũng như Phil Liesche, theo đuổi chính sách gắn bó với những hợp đồng mà ông ấy hiểu và muốn có, mà không cân nhắc đến tác động lên doanh thu phí bảo hiểm. Nhờ đó, ông ấy có một danh mục hợp đồng bảo hiểm (book of business) xuất sắc và một đội ngũ nhân viên vận hành đặc biệt tốt. Frank DeNardo đã chấn chỉnh mớ hỗn độn mà ông ấy thừa hưởng tại Los Angeles theo cách vượt xa kỳ vọng của chúng tôi, tạo ra khoản tiết kiệm tính bằng con số bảy chữ số. Giờ đây ông ấy có thể bắt đầu xây dựng trên một nền tảng vững chắc.
At yearend we entered the specialized area of surety reinsurance under the management of Chet Noble. At least initially, this operation will be relatively small since our policy will be to seek client companies who appreciate the need for a long term “partnership” relationship with their reinsurers. We are pleased by the quality of the insurers we have attracted, and hope to add several more of the best primary writers as our financial strength and stability become better known in the surety field.
Vào cuối năm, chúng ta đã tham gia lĩnh vực chuyên biệt tái bảo hiểm cho bảo hiểm bảo lãnh (surety), dưới sự quản lý của Chet Noble. Ít nhất là ban đầu, hoạt động này sẽ có quy mô tương đối nhỏ vì chính sách của chúng tôi sẽ là tìm kiếm những công ty khách hàng hiểu được sự cần thiết của một mối quan hệ “đối tác” dài hạn với các công ty nhận tái bảo hiểm của họ. Chúng tôi hài lòng với chất lượng của các công ty bảo hiểm mà chúng ta đã thu hút được, và hy vọng sẽ có thêm một vài công ty bảo hiểm gốc tốt nhất nữa khi sức mạnh tài chính và sự ổn định của chúng ta được biết đến rộng rãi hơn trong lĩnh vực bảo hiểm bảo lãnh.
The conventional wisdom is that insurance underwriting overall will be poor in 1980, but that rates will start to firm in a year or so, leading to a turn in the cycle some time in 1981. We disagree with this view. Present interest rates encourage the obtaining of business at underwriting loss levels formerly regarded as totally unacceptable. Managers decry the folly of underwriting at a loss to obtain investment income, but we believe that many will. Thus we expect that competition will create a new threshold of tolerance for underwriting losses, and that combined ratios will average higher in the future than in the past.
Quan niệm phổ biến là nghiệp vụ bảo hiểm nhìn chung sẽ kém khả quan trong năm 1980, nhưng biểu phí sẽ bắt đầu vững lên trong khoảng một năm nữa, dẫn đến một bước ngoặt của chu kỳ vào một thời điểm nào đó trong năm 1981. Chúng tôi không đồng ý với quan điểm này. Lãi suất hiện tại khuyến khích việc nhận hợp đồng ở những mức lỗ nghiệp vụ bảo hiểm mà trước đây bị coi là hoàn toàn không thể chấp nhận. Các nhà quản lý lên án sự điên rồ của việc nhận bảo hiểm chịu lỗ để có được thu nhập đầu tư, nhưng chúng tôi tin rằng nhiều người sẽ làm vậy. Do đó, chúng tôi dự đoán rằng cạnh tranh sẽ tạo ra một ngưỡng chịu đựng mới đối với lỗ nghiệp vụ bảo hiểm, và rằng tỷ lệ kết hợp (combined ratios) bình quân trong tương lai sẽ cao hơn trong quá khứ.
To some extent, the day of reckoning has been postponed because of marked reduction in the frequency of auto accidents ‐ probably brought on in major part by changes in driving habits induced by higher gas prices. In our opinion, if the habits hadn’t changed, auto insurance rates would have been very little higher and underwriting results would have been much worse. This dosage of serendipity won’t last indefinitely.
Ở một mức độ nào đó, ngày tính sổ đã được hoãn lại nhờ sự sụt giảm rõ rệt về tần suất tai nạn ô tô ‐ có lẽ phần lớn là do những thay đổi trong thói quen lái xe vì giá xăng cao hơn. Theo ý kiến của chúng tôi, nếu các thói quen này không thay đổi, biểu phí bảo hiểm ô tô lẽ ra chỉ cao hơn rất ít và kết quả nghiệp vụ bảo hiểm lẽ ra đã tệ hơn nhiều. Liều may mắn tình cờ này sẽ không kéo dài mãi mãi.
Our forecast is for an average combined ratio for the industry in the 105 area over the next five years. While we have a high degree of confidence that certain of our operations will do considerably better than average, it will be a challenge to us to operate below the industry figure. You can get a lot of surprises in insurance.
Dự báo của chúng tôi là tỷ lệ kết hợp bình quân của ngành sẽ ở quanh mức 105 trong năm năm tới. Mặc dù chúng tôi rất tin tưởng rằng một số hoạt động của chúng ta sẽ đạt kết quả tốt hơn đáng kể so với mức bình quân, việc hoạt động ở mức thấp hơn con số của ngành sẽ là một thách thức đối với chúng ta. Trong bảo hiểm, người ta có thể gặp rất nhiều bất ngờ.
Nevertheless, we believe that insurance can be a very good business. It tends to magnify, to an unusual degree, human managerial talent ‐ or the lack of it. We have a number of managers whose talent is both proven and growing. (And, in addition, we have a very large indirect interest in two truly outstanding management groups through our investments in SAFECO and GEICO.) Thus we expect to do well in insurance over a period of years. However, the business has the potential for really terrible results in a single specific year. If accident frequency should turn around quickly in the auto field, we, along with others, are likely to experience such a year.
Tuy vậy, chúng tôi tin rằng bảo hiểm có thể là một ngành kinh doanh rất tốt. Ngành này có xu hướng khuếch đại, ở một mức độ khác thường, tài năng quản lý của con người ‐ hoặc sự thiếu vắng tài năng đó. Chúng ta có một số nhà quản lý mà tài năng vừa đã được chứng minh vừa đang phát triển. (Và, ngoài ra, chúng ta có một lợi ích gián tiếp rất lớn trong hai đội ngũ quản lý thực sự xuất sắc thông qua các khoản đầu tư vào SAFECO và GEICO.) Do đó chúng tôi kỳ vọng sẽ làm tốt trong mảng bảo hiểm qua một khoảng thời gian nhiều năm. Tuy nhiên, ngành kinh doanh này có khả năng tạo ra những kết quả thực sự khủng khiếp trong một năm cụ thể nào đó. Nếu tần suất tai nạn trong lĩnh vực ô tô đảo chiều nhanh chóng, chúng ta, cùng với những công ty khác, nhiều khả năng sẽ trải qua một năm như vậy.
Insurance Investments
Đầu tư của mảng bảo hiểm
In recent years we have written at length in this section about our insurance equity investments. In 1979 they continued to perform well, largely because the underlying companies in which we have invested, in practically all cases, turned in outstanding performances. Retained earnings applicable to our insurance equity investments, not reported in our financial statements, continue to mount annually and, in aggregate, now come to a very substantial number. We have faith that the managements of these companies will utilize those retained earnings effectively and will translate a dollar retained by them into a dollar or more of subsequent market value for us. In part, our unrealized gains reflect this process.
Trong những năm gần đây, chúng tôi đã viết rất dài trong mục này về các khoản đầu tư cổ phiếu của mảng bảo hiểm. Năm 1979, các khoản đầu tư này tiếp tục đạt kết quả tốt, phần lớn là nhờ các công ty nền tảng mà chúng ta đã đầu tư, trong hầu như mọi trường hợp, đều đạt được kết quả xuất sắc. Lợi nhuận giữ lại tương ứng với các khoản đầu tư cổ phiếu của mảng bảo hiểm, vốn không được báo cáo trong báo cáo tài chính của chúng ta, tiếp tục tăng lên hằng năm và, tính gộp lại, nay đã đạt tới một con số rất lớn. Chúng tôi tin tưởng rằng ban điều hành của các công ty này sẽ sử dụng hiệu quả số lợi nhuận giữ lại đó và sẽ biến mỗi đô la họ giữ lại thành một đô la hoặc hơn giá trị thị trường về sau cho chúng ta. Một phần, khoản lãi chưa thực hiện của chúng ta phản ánh quá trình này.
Below we show the equity investments which had a yearend market value of over $5 million:
Dưới đây chúng tôi trình bày các khoản đầu tư cổ phiếu có giá trị thị trường cuối năm trên 5 triệu USD:
No. of Shares Company Cost Market
(000’s omitted) (000’s omitted)
289,700 Affiliated Publications, Inc. $2,821 $8,800
112,545 Amerada Hess $2,861 $5,487
246,450 American Broadcasting Companies, Inc $6,082 $9,673
5,730,114 GEICO Corp. (Common Stock) $28,288 $68,045
328,700 General Foods, Inc. $11,437 $11,053
1,007,500 Handy & Harman $21,825 $38,537
711,180 Interpublic Group of Companies $4,531 $23,736
1,211,834 Kaiser Aluminum& Chemical Corporation $20,629 $23,328
282,500 Media General, Inc. $4,545 $7,345
391,400 Ogilvy & Mather International $3,709 $7,828
953,750 SAFECO Corporation $23,867 $35,527
1,868,000 The Washington Post Company Class B $10,628 $39,241
771,900 F. W. Woolworth Company $15,515 $19,394
Total $156,738 $297,994
All Other Holdings $28,675 $38,686
Total Equities $185,413 $336,680
Số cổ phiếu Công ty Giá gốc Giá thị trường
(nghìn USD, lược 000) (nghìn USD, lược 000)
289.700 Affiliated Publications, Inc. $2.821 $8.800
112.545 Amerada Hess $2.861 $5.487
246.450 American Broadcasting Companies, Inc $6.082 $9.673
5.730.114 GEICO Corp. (Cổ phiếu phổ thông) $28.288 $68.045
328.700 General Foods, Inc. $11.437 $11.053
1.007.500 Handy & Harman $21.825 $38.537
711.180 Interpublic Group of Companies $4.531 $23.736
1.211.834 Kaiser Aluminum& Chemical Corporation $20.629 $23.328
282.500 Media General, Inc. $4.545 $7.345
391.400 Ogilvy & Mather International $3.709 $7.828
953.750 SAFECO Corporation $23.867 $35.527
1.868.000 The Washington Post Company loại B $10.628 $39.241
771.900 F. W. Woolworth Company $15.515 $19.394
Tổng $156.738 $297.994
Các khoản nắm giữ khác $28.675 $38.686
Tổng cổ phiếu $185.413 $336.680
We currently believe that equity markets in 1980 are likely to evolve in a manner that will result in an underperformance by our portfolio for the first time in recent years. We very much like the companies in which we have major investments, and plan no changes to try to attune ourselves to the markets of a specific year.
Hiện tại chúng tôi cho rằng thị trường cổ phiếu năm 1980 nhiều khả năng sẽ diễn biến theo cách khiến danh mục của chúng ta có kết quả kém hơn thị trường, lần đầu tiên trong những năm gần đây. Chúng tôi rất thích các công ty mà chúng ta có những khoản đầu tư lớn, và không có kế hoạch thay đổi nào nhằm cố gắng điều chỉnh mình cho hợp với thị trường của một năm cụ thể.
Since we have covered our philosophy regarding equities extensively in recent annual reports, a more extended discussion of bond investments may be appropriate for this one, particularly in light of what has happened since yearend. An extraordinary amount of money has been lost by the insurance industry in the bond area ‐ notwithstanding the accounting convention that allows insurance companies to carry their bond investments at amortized cost, regardless of impaired market value. Actually, that very accounting convention may have contributed in a major way to the losses; had management been forced to recognize market values, its attention might have been focused much earlier on the dangers of a very long‐term bond contract.
Vì chúng tôi đã trình bày rất kỹ triết lý của mình về cổ phiếu trong các báo cáo thường niên gần đây, một cuộc thảo luận dài hơn về các khoản đầu tư trái phiếu có lẽ sẽ phù hợp cho báo cáo năm nay, đặc biệt khi xét đến những gì đã xảy ra kể từ cuối năm. Ngành bảo hiểm đã mất một khoản tiền lớn bất thường trong mảng trái phiếu ‐ bất chấp thông lệ kế toán cho phép các công ty bảo hiểm ghi nhận các khoản đầu tư trái phiếu của mình theo giá trị phân bổ (amortized cost), bất kể giá trị thị trường đã suy giảm. Thực tế, chính thông lệ kế toán đó có thể đã góp phần rất lớn vào các khoản lỗ; giá như ban điều hành bị buộc phải ghi nhận giá trị thị trường, sự chú ý của họ có lẽ đã được tập trung sớm hơn nhiều vào những mối nguy của một hợp đồng trái phiếu rất dài hạn.
Ironically, many insurance companies have decided that a one‐year auto policy is inappropriate during a time of inflation, and six‐month policies have been brought in as replacements. “How,” say many of the insurance managers, “can we be expected to look forward twelve months and estimate such imponderables as hospital costs, auto parts prices, etc.?” But, having decided that one year is too long a period for which to set a fixed price for insurance in an inflationary world, they then have turned around, taken the proceeds from the sale of that six‐month policy, and sold the money at a fixed price for thirty or forty years.
Trớ trêu thay, nhiều công ty bảo hiểm đã quyết định rằng hợp đồng bảo hiểm ô tô kỳ hạn một năm là không phù hợp trong thời kỳ lạm phát, và các hợp đồng kỳ hạn sáu tháng đã được đưa vào để thay thế. “Làm sao,” nhiều nhà quản lý bảo hiểm nói, “có thể kỳ vọng chúng tôi nhìn trước mười hai tháng và ước tính những thứ khó lường như chi phí bệnh viện, giá phụ tùng ô tô, v.v.?” Nhưng, sau khi đã quyết định rằng một năm là khoảng thời gian quá dài để ấn định một mức giá cố định cho bảo hiểm trong một thế giới lạm phát, họ lại quay ngoắt lại, lấy số tiền thu được từ việc bán hợp đồng sáu tháng đó, và bán số tiền ấy với một mức giá cố định trong ba mươi hoặc bốn mươi năm.
The very long‐term bond contract has been the last major fixed price contract of extended duration still regularly initiated in an inflation‐ridden world. The buyer of money to be used between 1980 and 2020 has been able to obtain a firm price now for each year of its use while the buyer of auto insurance, medical services, newsprint, office space ‐ or just about any other product or service ‐ would be greeted with laughter if he were to request a firm price now to apply through 1985. For in virtually all other areas of commerce, parties to long‐term contracts now either index prices in some manner, or insist on the right to review the situation every year or so.
Hợp đồng trái phiếu rất dài hạn là loại hợp đồng giá cố định lớn có thời hạn kéo dài cuối cùng vẫn còn được ký kết thường xuyên trong một thế giới bị lạm phát hoành hành. Người mua tiền để sử dụng trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 2020 đã có thể có được ngay bây giờ một mức giá chắc chắn cho từng năm sử dụng, trong khi người mua bảo hiểm ô tô, dịch vụ y tế, giấy in báo, mặt bằng văn phòng ‐ hay gần như bất kỳ sản phẩm hoặc dịch vụ nào khác ‐ sẽ bị đáp lại bằng tiếng cười nếu người đó đòi một mức giá chắc chắn ngay bây giờ để áp dụng cho đến hết năm 1985. Bởi vì trong hầu như mọi lĩnh vực thương mại khác, các bên tham gia hợp đồng dài hạn hiện nay hoặc điều chỉnh giá theo chỉ số theo cách nào đó, hoặc đòi quyền xem xét lại tình hình khoảng mỗi năm một lần.
A cultural lag has prevailed in the bond area. The buyers (borrowers) and middlemen (underwriters) of money hardly could be expected to raise the question of whether it all made sense, and the sellers (lenders) slept through an economic and contractual revolution.
Một độ trễ về văn hóa đã ngự trị trong lĩnh vực trái phiếu. Những người mua tiền (người đi vay) và những người trung gian (tổ chức bảo lãnh phát hành) khó có thể được kỳ vọng sẽ đặt ra câu hỏi liệu tất cả những điều này có hợp lý hay không, còn những người bán (người cho vay) thì đã ngủ quên suốt một cuộc cách mạng về kinh tế và hợp đồng.
For the last few years our insurance companies have not been a net purchaser of any straight long‐term bonds (those without conversion rights or other attributes offering profit possibilities). There have been some purchases in the straight bond area, of course, but they have been offset by sales or maturities. Even prior to this period, we never would buy thirty or forty‐year bonds; instead we tried to concentrate in the straight bond area on shorter issues with sinking funds and on issues that seemed relatively undervalued because of bond market inefficiencies.
Trong vài năm qua, các công ty bảo hiểm của chúng ta không phải là bên mua ròng đối với bất kỳ trái phiếu dài hạn thường nào (những trái phiếu không có quyền chuyển đổi (conversion rights) hoặc các thuộc tính khác mang lại khả năng kiếm lời). Dĩ nhiên, đã có một số giao dịch mua trong mảng trái phiếu thường (straight bond), nhưng chúng đã được bù trừ bằng các giao dịch bán hoặc các khoản đáo hạn. Ngay cả trước giai đoạn này, chúng tôi chưa bao giờ mua trái phiếu kỳ hạn ba mươi hay bốn mươi năm; thay vào đó, trong mảng trái phiếu thường, chúng tôi đã cố gắng tập trung vào các đợt phát hành có kỳ hạn ngắn hơn có quỹ thanh toán nợ trái phiếu (sinking funds) và vào các đợt phát hành có vẻ bị định giá thấp tương đối do sự kém hiệu quả của thị trường trái phiếu.
However, the mild degree of caution that we exercised was an improper response to the world unfolding about us. You do not adequately protect yourself by bring half awake while others are sleeping. It was a mistake to buy fifteen‐year bonds, and yet we did; we made an even more serious mistake in not selling them (at losses, if necessary) when our present views began to crystallize. (Naturally, those views are much clearer and definite in retrospect; it would be fair for you to ask why we weren’t writing about this subject last year.)
Tuy nhiên, mức độ thận trọng nhẹ mà chúng tôi áp dụng là một phản ứng không thích đáng trước thế giới đang mở ra quanh chúng ta. Người ta không tự bảo vệ mình một cách thỏa đáng bằng cách chỉ tỉnh một nửa trong khi những người khác đang ngủ. Mua trái phiếu kỳ hạn mười lăm năm là một sai lầm, vậy mà chúng tôi vẫn mua; chúng tôi còn mắc một sai lầm nghiêm trọng hơn nữa khi không bán chúng đi (chịu lỗ, nếu cần) khi các quan điểm hiện tại của chúng tôi bắt đầu định hình rõ. (Đương nhiên, khi nhìn lại thì những quan điểm đó rõ ràng và dứt khoát hơn nhiều; sẽ là công bằng nếu các bạn hỏi vì sao năm ngoái chúng tôi không viết về chủ đề này.)
Of course, we must hold significant amounts of bonds or other fixed dollar obligations in conjunction with our insurance operations. In the last several years our net fixed dollar commitments have been limited to the purchase of convertible bonds. We believe that the conversion options obtained, in effect, give that portion of the bond portfolio a far shorter average life than implied by the maturity terms of the issues (i.e., at an appropriate time of our choosing, we can terminate the bond contract by conversion into stock).
Dĩ nhiên, chúng ta phải nắm giữ một lượng đáng kể trái phiếu hoặc các công cụ nợ trả theo số đô la cố định khác gắn với hoạt động bảo hiểm của mình. Trong vài năm gần đây, các khoản đầu tư ròng của chúng ta vào công cụ nợ trả theo số đô la cố định chỉ giới hạn ở việc mua trái phiếu chuyển đổi (convertible bonds). Chúng tôi tin rằng các quyền chuyển đổi có được, trên thực tế, mang lại cho phần đó của danh mục trái phiếu một kỳ hạn bình quân ngắn hơn nhiều so với kỳ hạn hàm ý trong các điều khoản đáo hạn của các đợt phát hành (tức là, vào một thời điểm thích hợp do chúng ta lựa chọn, chúng ta có thể chấm dứt hợp đồng trái phiếu bằng cách chuyển đổi thành cổ phiếu).
This bond policy has given us significantly lower unrealized losses than those experienced by the great majority of property and casualty insurance companies. We also have been helped by our strong preference for equities in recent years that has kept our overall bond segment relatively low. Nevertheless, we are taking our lumps in bonds and feel that, in a sense, our mistakes should be viewed less charitably than the mistakes of those who went about their business unmindful of the developing problems.
Chính sách trái phiếu này đã giúp chúng ta có các khoản lỗ chưa thực hiện thấp hơn đáng kể so với mức mà đại đa số các công ty bảo hiểm tài sản và trách nhiệm (property and casualty) phải gánh chịu. Chúng ta cũng được lợi nhờ việc chúng ta rất ưa chuộng cổ phiếu trong những năm gần đây, điều đã giữ cho toàn bộ mảng trái phiếu của chúng ta ở mức tương đối thấp. Tuy vậy, chúng ta đang phải chịu những cú đòn trong mảng trái phiếu và chúng tôi cảm thấy rằng, theo một nghĩa nào đó, những sai lầm của chúng tôi cần được nhìn nhận ít khoan dung hơn những sai lầm của những người đã tiếp tục công việc kinh doanh của mình mà không để tâm đến các vấn đề đang hình thành.
Harking back to our textile experience, we should have realized the futility of trying to be very clever (via sinking funds and other special type issues) in an area where the tide was running heavily against us.
Nhớ lại kinh nghiệm với mảng dệt may của mình, lẽ ra chúng tôi đã phải nhận ra sự vô ích của việc cố tỏ ra thật khôn khéo (thông qua quỹ thanh toán nợ trái phiếu và các loại chứng khoán đặc biệt khác) trong một lĩnh vực mà dòng nước đang chảy mạnh ngược chiều với chúng ta.
We have severe doubts as to whether a very long‐term fixed‐interest bond, denominated in dollars, remains an appropriate business contract in a world where the value of dollars seems almost certain to shrink by the day. Those dollars, as well as paper creations of other governments, simply may have too many structural weaknesses to appropriately serve as a unit of long term commercial reference. If so, really long bonds may turn out to be obsolete instruments and insurers who have bought those maturities of 2010 or 2020 could have major and continuing problems on their hands. We, likewise, will be unhappy with our fifteen‐year bonds and will annually pay a price in terms of earning power that reflects that mistake.
Chúng tôi rất nghi ngờ liệu một trái phiếu lãi suất cố định rất dài hạn, tính bằng đô la, có còn là một hợp đồng kinh doanh phù hợp trong một thế giới mà giá trị của đồng đô la dường như gần như chắc chắn sẽ teo lại từng ngày hay không. Những đồng đô la đó, cũng như những thứ tiền giấy do các chính phủ khác tạo ra, có thể đơn giản là có quá nhiều điểm yếu mang tính cơ cấu để có thể phục vụ một cách thích đáng như một đơn vị tham chiếu thương mại dài hạn. Nếu vậy, các trái phiếu thực sự dài hạn có thể sẽ trở thành những công cụ lỗi thời và các công ty bảo hiểm đã mua những trái phiếu đáo hạn năm 2010 hay 2020 có thể sẽ phải đối mặt với những vấn đề lớn và kéo dài. Tương tự, chúng tôi cũng sẽ không vui với các trái phiếu kỳ hạn mười lăm năm của mình và hằng năm sẽ phải trả một cái giá tính bằng khả năng sinh lời (earning power) phản ánh sai lầm đó.
Some of our convertible bonds appear exceptionally attractive to us, and have the same sort of earnings retention factor (applicable to the stock into which they may be converted) that prevails in our conventional equity portfolio. We expect to make money in these bonds (we already have, in a few cases) and have hopes that our profits in this area may offset losses in straight bonds.
Một số trái phiếu chuyển đổi của chúng ta có vẻ đặc biệt hấp dẫn đối với chúng tôi, và có cùng loại yếu tố giữ lại lợi nhuận (áp dụng cho cổ phiếu mà chúng có thể được chuyển đổi thành) như yếu tố đang hiện diện trong danh mục cổ phiếu theo thông lệ của chúng ta. Chúng tôi kỳ vọng sẽ kiếm được tiền từ các trái phiếu này (chúng ta đã kiếm được, trong một vài trường hợp) và hy vọng rằng lợi nhuận của chúng ta trong mảng này có thể bù đắp các khoản lỗ ở trái phiếu thường.
And, of course, there is the possibility that our present analysis is much too negative. The chances for very low rates of inflation are not nil. Inflation is man‐made; perhaps it can be man‐mastered. The threat which alarms us may also alarm legislators and other powerful groups, prompting some appropriate response.
Và, dĩ nhiên, vẫn có khả năng là phân tích hiện tại của chúng tôi quá bi quan. Khả năng xảy ra mức lạm phát rất thấp không phải là bằng không. Lạm phát là do con người tạo ra; có lẽ con người cũng có thể chế ngự được nó. Mối đe dọa khiến chúng tôi lo ngại cũng có thể khiến các nhà lập pháp và các nhóm quyền lực khác lo ngại, thúc đẩy một phản ứng thích đáng nào đó.
Furthermore, present interest rates incorporate much higher inflation projections than those of a year or two ago. Such rates may prove adequate or more than adequate to protect bond buyers. We even may miss large profits from a major rebound in bond prices. However, our unwillingness to fix a price now for a pound of See’s candy or a yard of Berkshire cloth to be delivered in 2010 or 2020 makes us equally unwilling to buy bonds which set a price on money now for use in those years. Overall, we opt for Polonius (slightly restated): “Neither a short‐term borrower nor a long‐term lender be.”
Hơn nữa, lãi suất hiện tại đã bao hàm những dự báo lạm phát cao hơn nhiều so với các dự báo của một hoặc hai năm trước. Những mức lãi suất như vậy có thể tỏ ra đủ hoặc hơn mức đủ để bảo vệ người mua trái phiếu. Chúng ta thậm chí có thể bỏ lỡ những khoản lợi nhuận lớn từ một đợt phục hồi mạnh của giá trái phiếu. Tuy nhiên, việc chúng tôi không sẵn lòng ấn định ngay bây giờ một mức giá cho một pound kẹo See’s hay một yard vải Berkshire sẽ được giao vào năm 2010 hoặc 2020 khiến chúng tôi cũng không sẵn lòng như vậy khi mua những trái phiếu ấn định ngay bây giờ giá của tiền để sử dụng trong những năm đó. Nói chung, chúng tôi chọn theo Polonius (nói lại đôi chút): “Đừng làm người đi vay ngắn hạn, cũng đừng làm người cho vay dài hạn.”
Banking
Ngân hàng
This will be the last year that we can report on the Illinois National Bank and Trust Company as a subsidiary of Berkshire Hathaway. Therefore, it is particularly pleasant to report that, under Gene Abegg’s and Pete Jeffrey’s management, the bank broke all previous records and earned approximately 2.3% on average assets last year, a level again over three times that achieved by the average major bank, and more than double that of banks regarded as outstanding. The record is simply extraordinary, and the shareholders of Berkshire Hathaway owe a standing ovation to Gene Abegg for the performance this year and every year since our purchase in 1969.
Đây sẽ là năm cuối cùng chúng tôi có thể báo cáo về Illinois National Bank and Trust Company với tư cách một công ty con của Berkshire Hathaway. Vì vậy, thật đặc biệt vui khi được báo cáo rằng, dưới sự điều hành của Gene Abegg và Pete Jeffrey, ngân hàng đã phá mọi kỷ lục trước đây và năm ngoái đạt lợi nhuận khoảng 2,3% trên tài sản bình quân, một mức một lần nữa bằng hơn ba lần mức mà một ngân hàng lớn trung bình đạt được, và hơn gấp đôi mức của các ngân hàng được coi là xuất sắc. Thành tích này đơn giản là phi thường, và các cổ đông của Berkshire Hathaway nợ Gene Abegg một tràng pháo tay đứng dậy tán thưởng vì kết quả của năm nay và của mọi năm kể từ khi chúng ta mua ngân hàng vào năm 1969.
As you know, the Bank Holding Company Act of 1969 requires that we divest the bank by December 31, 1980. For some years we have expected to comply by effecting a spin‐off during 1980. However, the Federal Reserve Board has taken the firm position that if the bank is spun off, no officer or director of Berkshire Hathaway can be an officer or director of the spun‐off bank or bank holding company, even in a case such as ours in which one individual would own over 40% of both companies.
Như các bạn đã biết, Đạo luật Công ty mẹ Ngân hàng (Bank Holding Company Act) năm 1969 yêu cầu chúng ta thoái vốn khỏi ngân hàng chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 năm 1980. Từ vài năm nay, chúng tôi đã dự kiến tuân thủ bằng cách thực hiện tách công ty (spin‐off) trong năm 1980. Tuy nhiên, Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang (Federal Reserve Board) đã có quan điểm dứt khoát rằng nếu ngân hàng được tách ra, không cán bộ quản lý hay thành viên hội đồng quản trị nào của Berkshire Hathaway được làm cán bộ quản lý hay thành viên hội đồng quản trị của ngân hàng hoặc công ty mẹ nắm giữ vốn ngân hàng (bank holding company) được tách ra, ngay cả trong trường hợp như của chúng ta, khi một cá nhân sẽ sở hữu hơn 40% cả hai công ty.
Under these conditions, we are investigating the possible sale of between 80% and 100% of the stock of the bank. We will be most choosy about any purchaser, and our selection will not be based solely on price. The bank and its management have treated us exceptionally well and, if we have to sell, we want to be sure that they are treated equally as well. A spin‐off still is a possibility if a fair price along with a proper purchaser cannot be obtained by early fall.
Trong những điều kiện này, chúng tôi đang xem xét khả năng bán từ 80% đến 100% cổ phiếu của ngân hàng. Chúng tôi sẽ hết sức kén chọn đối với bất kỳ người mua nào, và lựa chọn của chúng tôi sẽ không chỉ dựa trên giá. Ngân hàng và ban điều hành của ngân hàng đã đối xử với chúng ta đặc biệt tốt và, nếu phải bán, chúng tôi muốn chắc chắn rằng họ cũng sẽ được đối xử tốt như vậy. Việc tách công ty vẫn là một khả năng nếu đến đầu mùa thu không đạt được một mức giá hợp lý cùng với một người mua phù hợp.
However, you should be aware that we do not expect to be able to fully, or even in very large part, replace the earning power represented by the bank from the proceeds of the sale of the bank. You simply can’t buy high quality businesses at the sort of price/earnings multiple likely to prevail on our bank sale.
Tuy nhiên, các bạn cần biết rằng chúng tôi không kỳ vọng có thể thay thế hoàn toàn, hoặc thậm chí phần rất lớn, khả năng sinh lời mà ngân hàng đại diện bằng số tiền thu được từ việc bán ngân hàng. Đơn giản là người ta không thể mua những doanh nghiệp chất lượng cao ở mức hệ số giá trên lợi nhuận (price/earnings multiple) nhiều khả năng sẽ áp dụng cho thương vụ bán ngân hàng của chúng ta.
Financial Reporting
Công tác báo cáo với cổ đông
During 1979, NASDAQ trading was initiated in the stock of Berkshire Hathaway This means that the stock now is quoted on the Over‐the‐Counter page of the Wall Street journal under “Additional OTC Quotes”. Prior to such listing, the Wall Street journal and the Dow‐Jones news ticker would not report our earnings, even though such earnings were one hundred or more times the level of some companies whose reports they regularly picked up.
Trong năm 1979, giao dịch trên NASDAQ đã được bắt đầu đối với cổ phiếu của Berkshire Hathaway. Điều này có nghĩa là cổ phiếu hiện được niêm yết giá trên trang Over‐the‐Counter của Wall Street Journal, dưới mục “Additional OTC Quotes” (báo giá OTC bổ sung). Trước khi được niêm yết như vậy, Wall Street Journal và bản tin điện tử (news ticker) Dow‐Jones không đưa tin về lợi nhuận của chúng ta, mặc dù lợi nhuận đó gấp một trăm lần hoặc hơn mức lợi nhuận của một số công ty mà báo cáo của họ vẫn thường xuyên được hai nơi này đăng tải.
Now, however, the Dow‐Jones news ticker reports our quarterly earnings promptly after we release them and, in addition, both the ticker and the Wall Street journal report our annual earnings. This solves a dissemination problem that had bothered us.
Tuy nhiên, giờ đây bản tin điện tử Dow‐Jones đưa tin về lợi nhuận hằng quý của chúng ta ngay sau khi chúng tôi công bố và, ngoài ra, cả bản tin điện tử lẫn Wall Street Journal đều đưa tin về lợi nhuận hằng năm của chúng ta. Điều này giải quyết một vấn đề về phổ biến thông tin vốn đã làm chúng tôi bận tâm.
In some ways, our shareholder group is a rather unusual one, and this affects our manner of reporting to you. For example, at the end of each year about 98% of the shares outstanding are held by people who also were shareholders at the beginning of the year. Therefore, in our annual report we build upon what we have told you in previous years instead of restating a lot of material. You get more useful information this way, and we don’t get bored.
Ở một số khía cạnh, nhóm cổ đông của chúng ta là một nhóm khá khác thường, và điều này ảnh hưởng đến cách chúng tôi báo cáo với các bạn. Ví dụ, vào cuối mỗi năm, khoảng 98% số cổ phiếu đang lưu hành do những người cũng đã là cổ đông vào đầu năm nắm giữ. Vì vậy, trong báo cáo thường niên, chúng tôi xây dựng tiếp trên những gì đã nói với các bạn trong các năm trước thay vì nhắc lại nhiều nội dung. Theo cách này các bạn nhận được nhiều thông tin hữu ích hơn, còn chúng tôi thì không bị nhàm chán.
Furthermore, perhaps 90% of our shares are owned by investors for whom Berkshire is their largest security holding, very often far and away the largest. Many of these owners are willing to spend a significant amount of time with the annual report, and we attempt to provide them with the same information we would find useful if the roles were reversed.
Hơn nữa, có lẽ 90% số cổ phiếu của chúng ta thuộc sở hữu của những nhà đầu tư mà đối với họ Berkshire là khoản nắm giữ chứng khoán lớn nhất, rất thường là lớn nhất với khoảng cách rất xa. Nhiều người trong số các chủ sở hữu này sẵn lòng dành một lượng thời gian đáng kể cho báo cáo thường niên, và chúng tôi cố gắng cung cấp cho họ cùng những thông tin mà chúng tôi sẽ thấy hữu ích nếu vai trò được đảo ngược.
In contrast, we include no narrative with our quarterly reports. Our owners and managers both have very long time‐horizons in regard to this business, and it is difficult to say anything new or meaningful each quarter about events of long‐term significance.
Ngược lại, chúng tôi không kèm phần trình bày bằng lời nào trong các báo cáo hằng quý. Cả các chủ sở hữu lẫn các nhà quản lý của chúng ta đều có tầm nhìn thời gian rất dài đối với doanh nghiệp này, và thật khó để nói điều gì mới mẻ hay có ý nghĩa mỗi quý về những sự kiện có tầm quan trọng dài hạn.
But when you do receive a communication from us, it will come from the fellow you are paying to run the business. Your Chairman has a firm belief that owners are entitled to hear directly from the CEO as to what is going on and how he evaluates the business, currently and prospectively. You would demand that in a private company; you should expect no less in a public company. A once‐a‐year report of stewardship should not be turned over to a staff specialist or public relations consultant who is unlikely to be in a position to talk frankly on a manager‐to‐owner basis.
Nhưng khi các bạn nhận được một thông điệp từ chúng tôi, thông điệp đó sẽ đến từ chính người mà các bạn đang trả tiền để điều hành doanh nghiệp. Chủ tịch của các bạn có niềm tin vững chắc rằng các chủ sở hữu có quyền được nghe trực tiếp từ CEO về những gì đang diễn ra và cách ông ấy đánh giá doanh nghiệp, ở hiện tại và trong tương lai. Các bạn sẽ đòi hỏi điều đó ở một công ty không đại chúng; các bạn không nên kỳ vọng ít hơn ở một công ty đại chúng. Một bản báo cáo về trách nhiệm quản lý được ủy thác (stewardship) mỗi năm một lần không nên được giao cho một chuyên viên hay một chuyên gia tư vấn quan hệ công chúng, những người khó có thể ở vị thế nói chuyện thẳng thắn theo kiểu người quản lý với chủ sở hữu.
We feel that you, as owners, are entitled to the same sort of reporting by your manager as we feel is owed to us at Berkshire Hathaway by managers of our business units. Obviously, the degree of detail must be different, particularly where information would be useful to a business competitor or the like. But the general scope, balance, and level of candor should be similar. We don’t expect a public relations document when our operating managers tell us what is going on, and we don’t feel you should receive such a document.
Chúng tôi cho rằng các bạn, với tư cách chủ sở hữu, có quyền nhận được từ người quản lý của mình loại báo cáo giống như loại báo cáo mà chúng tôi cho rằng các nhà quản lý của các đơn vị kinh doanh của chúng ta có nghĩa vụ dành cho chúng tôi tại Berkshire Hathaway. Hiển nhiên, mức độ chi tiết phải khác, đặc biệt ở những chỗ mà thông tin có thể hữu ích cho một đối thủ cạnh tranh hay đối tượng tương tự. Nhưng phạm vi tổng quát, sự cân đối và mức độ thẳng thắn cần tương tự nhau. Chúng tôi không mong đợi một tài liệu quan hệ công chúng khi các nhà quản lý điều hành của chúng ta cho chúng tôi biết những gì đang diễn ra, và chúng tôi không cho rằng các bạn nên nhận một tài liệu như vậy.
In large part, companies obtain the shareholder constituency that they seek and deserve. If they focus their thinking and communications on short‐term results or short‐term stock market consequences they will, in large part, attract shareholders who focus on the same factors. And if they are cynical in their treatment of investors, eventually that cynicism is highly likely to be returned by the investment community.
Phần lớn, các công ty có được cộng đồng cổ đông (shareholder constituency) mà họ tìm kiếm và xứng đáng có. Nếu họ tập trung suy nghĩ và truyền thông của mình vào kết quả ngắn hạn hoặc những hệ quả ngắn hạn trên thị trường chứng khoán, thì phần lớn họ sẽ thu hút những cổ đông tập trung vào chính những yếu tố đó. Và nếu họ đối xử với nhà đầu tư bằng thái độ hoài nghi và coi thường, thì cuối cùng thái độ hoài nghi đó rất có khả năng sẽ bị giới đầu tư đáp trả lại.
Phil Fisher, a respected investor and author, once likened the policies of the corporation in attracting shareholders to those of a restaurant attracting potential customers. A restaurant could seek a given clientele ‐ patrons of fast foods, elegant dining, Oriental food, etc. ‐ and eventually obtain an appropriate group of devotees. If the job were expertly done, that clientele, pleased with the service, menu, and price level offered, would return consistently. But the restaurant could not change its character constantly and end up with a happy and stable clientele. If the business vacillated between French cuisine and take‐out chicken, the result would be a revolving door of confused and dissatisfied customers.
Phil Fisher, một nhà đầu tư và tác giả được kính trọng, từng ví các chính sách của doanh nghiệp trong việc thu hút cổ đông với các chính sách của một nhà hàng trong việc thu hút khách hàng tiềm năng. Một nhà hàng có thể nhắm đến một nhóm khách nhất định ‐ khách ăn đồ ăn nhanh, khách ăn uống sang trọng, khách ăn món phương Đông, v.v. ‐ và cuối cùng có được một nhóm khách trung thành phù hợp. Nếu việc này được làm một cách thành thạo, nhóm khách đó, hài lòng với dịch vụ, thực đơn và mức giá được đưa ra, sẽ quay lại đều đặn. Nhưng nhà hàng không thể liên tục thay đổi tính chất của mình mà cuối cùng vẫn có được một nhóm khách hài lòng và ổn định. Nếu doanh nghiệp cứ dao động giữa ẩm thực Pháp và món gà mua mang đi, kết quả sẽ là một cánh cửa xoay của những khách hàng bối rối và không hài lòng.
So it is with corporations and the shareholder constituency they seek. You can’t be all things to all men, simultaneously seeking different owners whose primary interests run from high current yield to long‐term capital growth to stock market pyrotechnics, etc.
Đối với các doanh nghiệp và cộng đồng cổ đông mà họ tìm kiếm cũng vậy. Người ta không thể là mọi thứ đối với mọi người, đồng thời tìm kiếm những chủ sở hữu khác nhau có mối quan tâm chính trải dài từ lợi suất hiện hành cao, đến tăng trưởng vốn dài hạn, đến những màn pháo hoa trên thị trường chứng khoán, v.v.
The reasoning of managements that seek large trading activity in their shares puzzles us. In effect, such managements are saying that they want a good many of the existing clientele continually to desert them in favor of new ones ‐ because you can’t add lots of new owners (with new expectations) without losing lots of former owners.
Lập luận của những ban điều hành tìm kiếm khối lượng giao dịch lớn đối với cổ phiếu của họ khiến chúng tôi bối rối. Trên thực tế, những ban điều hành như vậy đang nói rằng họ muốn một bộ phận lớn khách hàng hiện tại liên tục rời bỏ họ để thay bằng những khách hàng mới ‐ bởi vì người ta không thể có thêm nhiều chủ sở hữu mới (với những kỳ vọng mới) mà không mất đi nhiều chủ sở hữu cũ.
We much prefer owners who like our service and menu and who return year after year. It would be hard to find a better group to sit in the Berkshire Hathaway shareholder “seats” than those already occupying them. So we hope to continue to have a very low turnover among our owners, reflecting a constituency that understands our operation, approves of our policies, and shares our expectations. And we hope to deliver on those expectations.
Chúng tôi thích hơn nhiều những chủ sở hữu ưa thích dịch vụ và thực đơn của chúng ta và quay lại năm này qua năm khác. Khó mà tìm được một nhóm nào tốt hơn để ngồi vào những “ghế” cổ đông của Berkshire Hathaway so với những người đang ngồi ở đó. Vì vậy, chúng tôi hy vọng tiếp tục có tỷ lệ luân chuyển rất thấp trong số các chủ sở hữu của chúng ta, phản ánh một cộng đồng cổ đông hiểu hoạt động của chúng tôi, tán thành các chính sách của chúng tôi, và cùng chia sẻ những kỳ vọng của chúng tôi. Và chúng tôi hy vọng sẽ đáp ứng được những kỳ vọng đó.
Prospects
Triển vọng
Last year we said that we expected operating earnings in dollars to improve but return on equity to decrease. This turned out to be correct. Our forecast for 1980 is the same. If we are wrong, it will be on the downside. In other words, we are virtually certain that our operating earnings expressed as a percentage of the new equity base of approximately $236 million, valuing securities at cost, will decline from the 18.6% attained in 1979. There is also a fair chance that operating earnings in aggregate dollars will fall short of 1979; the outcome depends partly upon the date of disposition of the bank, partly upon the degree of slippage in insurance underwriting profitability, and partly upon the severity of earnings problems in the savings and loan industry.
Năm ngoái chúng tôi đã nói rằng chúng tôi kỳ vọng lợi nhuận hoạt động tính bằng đô la sẽ cải thiện nhưng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu sẽ giảm. Điều này hóa ra là đúng. Dự báo của chúng tôi cho năm 1980 cũng như vậy. Nếu chúng tôi sai, thì sẽ là sai theo chiều đi xuống. Nói cách khác, chúng tôi gần như chắc chắn rằng lợi nhuận hoạt động của chúng ta, tính theo tỷ lệ phần trăm trên nền vốn chủ sở hữu mới vào khoảng 236 triệu USD, với chứng khoán tính theo giá gốc, sẽ giảm so với mức 18,6% đạt được năm 1979. Cũng có khả năng tương đối lớn là tổng lợi nhuận hoạt động tính bằng đô la sẽ thấp hơn năm 1979; kết quả phụ thuộc một phần vào thời điểm thoái vốn khỏi ngân hàng, một phần vào mức độ sụt giảm khả năng sinh lời của nghiệp vụ bảo hiểm, và một phần vào mức độ nghiêm trọng của các vấn đề lợi nhuận trong ngành tổ chức tiết kiệm và cho vay (savings and loan).
We continue to feel very good about our insurance equity investments. Over a period of years, we expect to develop very large and growing amounts of underlying earning power attributable to our fractional ownership of these companies. In most cases they are splendid businesses, splendidly managed, purchased at highly attractive prices.
Chúng tôi tiếp tục cảm thấy rất hài lòng về các khoản đầu tư cổ phiếu của mảng bảo hiểm. Qua một số năm, chúng tôi kỳ vọng sẽ phát triển được những khối khả năng sinh lời nền tảng rất lớn và ngày càng tăng, thuộc về phần sở hữu nhỏ của chúng ta tại các công ty này. Trong hầu hết các trường hợp, đó là những doanh nghiệp tuyệt vời, được quản lý tuyệt vời, được mua ở mức giá rất hấp dẫn.
Your company is run on the principle of centralization of financial decisions at the top (the very top, it might be added), and rather extreme delegation of operating authority to a number of key managers at the individual company or business unit level. We could just field a basketball team with our corporate headquarters group (which utilizes only about 1500 square feet of space).
Công ty của các bạn được điều hành theo nguyên tắc tập trung các quyết định tài chính ở cấp cao nhất (ở cấp thật sự cao nhất, có thể nói thêm như vậy), và ủy quyền điều hành ở mức khá cực đoan cho một số nhà quản lý chủ chốt ở cấp từng công ty hoặc đơn vị kinh doanh. Nhóm nhân sự trụ sở công ty của chúng ta (vốn chỉ sử dụng khoảng 1500 feet vuông diện tích) chỉ vừa đủ người để lập một đội bóng rổ.
This approach produces an occasional major mistake that might have been eliminated or minimized through closer operating controls. But it also eliminates large layers of costs and dramatically speeds decision‐making. Because everyone has a great deal to do, a very great deal gets done. Most important of all, it enables us to attract and retain some extraordinarily talented individuals ‐ people who simply can’t be hired in the normal course of events ‐ who find working for Berkshire to be almost identical to running their own show.
Cách tiếp cận này thỉnh thoảng gây ra một sai lầm lớn mà lẽ ra có thể đã được loại bỏ hoặc giảm thiểu nhờ các biện pháp kiểm soát hoạt động (operating controls) chặt chẽ hơn. Nhưng cách này cũng loại bỏ được những lớp chi phí lớn và đẩy nhanh đáng kể việc ra quyết định. Vì ai cũng có rất nhiều việc phải làm, nên rất nhiều việc được hoàn thành. Quan trọng nhất, cách này giúp chúng ta thu hút và giữ chân một số cá nhân tài năng phi thường ‐ những người đơn giản là không thể thuê được theo lẽ bình thường ‐ những người thấy rằng làm việc cho Berkshire gần như giống hệt việc tự điều hành công việc của riêng mình.
We have placed much trust in them ‐ and their achievements have far exceeded that trust.
Chúng tôi đã đặt rất nhiều niềm tin vào họ ‐ và thành tựu của họ đã vượt xa niềm tin đó.
Warren E. Buffett, Chairman
Warren E. Buffett, Chủ tịch
March 3, 1980
Ngày 3 tháng 3 năm 1980
Nhận bài mới qua email
Mỗi khi có bài hoặc video mới, một thư ngắn gửi tới hộp thư của bạn. Không gửi quảng cáo, huỷ lúc nào cũng được. Thích đọc bằng ứng dụng thì dùng RSS.
Email chỉ dùng để gửi bài mới. Chi tiết ở Chính sách bảo mật.