Thư cổ đông Berkshire Hathaway năm 1976
Lợi nhuận hoạt động 16.073.000 USD, tức 16,47 USD mỗi cổ phiếu và 17,3% vốn đầu năm, nhờ National Indemnity, kèm bảng cổ phiếu nắm giữ có Government Employees Insurance và Washington Post.
Dịch từ bản gốc tại web.archive.org, phục vụ học tập, phi thương mại. Bản gốc: bản lưu Wayback Machine của rbcpa.com (lưu ngày 14/11/2012), không phải trang chính chủ.
Đoạn gốc tiếng Anh ở trên, bản dịch tiếng Việt ở dưới. Khi hai bản khác nhau, bản gốc là căn cứ.
To the Stockholders of Berkshire Hathaway Inc.:
Gửi các cổ đông của Berkshire Hathaway Inc.:
After two dismal years, operating results in 1976 improved significantly. Last year we said the degree of progress in insurance underwriting would determine whether our gain in earnings would be “moderate” or “major.” As it turned out, earnings exceeded even the high end of our expectations. In large part, this was due to the outstanding efforts of Phil Liesche’s managerial group at National Indemnity Company.
Sau hai năm ảm đạm, kết quả hoạt động năm 1976 đã cải thiện đáng kể. Năm ngoái chúng tôi đã nói rằng mức độ tiến bộ trong nghiệp vụ bảo hiểm (underwriting) sẽ quyết định mức tăng lợi nhuận của chúng ta là “vừa phải” hay “lớn.” Hóa ra, lợi nhuận thậm chí đã vượt qua cả mức cao nhất trong kỳ vọng của chúng tôi. Phần lớn điều này là nhờ những nỗ lực xuất sắc của đội ngũ quản lý do Phil Liesche đứng đầu tại National Indemnity Company.
In dollar terms, operating earnings came to $16,073,000, or $16.47 per share. While this is a record figure, we consider return on shareholders’ equity to be a much more significant yardstick of economic performance. Here our result was 17.3%, moderately above our long‐term average and even further above the average of American industry, but well below our record level of 19.8% achieved in 1972.
Tính bằng USD, lợi nhuận hoạt động (operating earnings) đạt 16.073.000 USD, tức 16,47 USD mỗi cổ phiếu. Dù đây là một con số kỷ lục, chúng tôi coi tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của cổ đông là thước đo có ý nghĩa hơn nhiều đối với thành tích kinh tế. Ở thước đo này, kết quả của chúng ta là 17,3%, cao hơn vừa phải so với mức trung bình dài hạn của chúng ta và còn cao hơn nữa so với mức trung bình của ngành công nghiệp Mỹ, nhưng thấp hơn nhiều so với mức kỷ lục 19,8% mà chúng ta đạt được vào năm 1972.
Our present estimate, subject to all the caveats implicit in forecasting, is that dollar operating earnings are likely to improve somewhat in 1977, but that return on equity may decline a bit from the 1976 figure.
Ước tính hiện tại của chúng tôi, kèm theo mọi sự dè dặt vốn hàm ẩn trong việc dự báo, là lợi nhuận hoạt động tính bằng USD nhiều khả năng sẽ cải thiện phần nào trong năm 1977, nhưng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (return on equity) có thể giảm đôi chút so với con số của năm 1976.
Textile Operations
Hoạt động dệt may
Our textile division was a significant disappointment during 1976. Earnings, measured either by return on sales or by return on capital employed, were inadequate. In part, this was due to industry conditions which did not measure up to expectations of a year ago. But equally important were our own shortcomings. Marketing efforts and mill capabilities were not properly matched in our new Waumbec operation. Unfavorable manufacturing cost variances were produced by improper evaluation of machinery and personnel capabilities. Ken Chace, as always, has been candid in reporting problems and has worked diligently to correct them. He is a pleasure to work with—even under difficult operating conditions.
Bộ phận dệt may của chúng ta là một nỗi thất vọng đáng kể trong năm 1976. Lợi nhuận, dù đo bằng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (return on sales) hay bằng tỷ suất lợi nhuận trên vốn sử dụng (return on capital employed), đều không thỏa đáng. Một phần nguyên nhân là do tình hình của ngành không đạt được như kỳ vọng của một năm trước. Nhưng quan trọng không kém là những thiếu sót của chính chúng ta. Nỗ lực tiếp thị và năng lực của nhà máy đã không được kết hợp ăn khớp đúng mức tại cơ sở Waumbec mới của chúng ta. Các khoản chênh lệch chi phí sản xuất bất lợi so với định mức đã phát sinh do việc đánh giá không đúng năng lực của máy móc và nhân sự. Ken Chace, như mọi khi, đã thẳng thắn báo cáo các vấn đề và đã làm việc cần mẫn để khắc phục chúng. Làm việc với ông ấy là một niềm vui—ngay cả trong những điều kiện hoạt động khó khăn.
While the first quarter outlook is for red ink, our quite tentative belief is that textile earnings in 1977 will equal, or exceed modestly, those of 1976. Despite disappointing current results, we continue to look for ways to build our textile operation and presently have one moderate‐size acquisition under consideration. It should be recognized that the textile business does not offer the expectation of high returns on investment. Nevertheless, we maintain a commitment to this division—a very important source of employment in New Bedford and Manchester—and believe reasonable returns on average are possible.
Mặc dù triển vọng của quý một là thua lỗ, nhận định còn hết sức dè dặt của chúng tôi là lợi nhuận dệt may năm 1977 sẽ bằng, hoặc cao hơn chút ít, so với lợi nhuận năm 1976. Bất chấp kết quả hiện tại đáng thất vọng, chúng tôi tiếp tục tìm cách phát triển hoạt động dệt may của chúng ta và hiện đang xem xét một thương vụ mua lại có quy mô vừa phải. Cần nhận thức rằng ngành kinh doanh dệt may không mang lại kỳ vọng về tỷ suất lợi nhuận cao trên vốn đầu tư. Tuy vậy, chúng tôi vẫn duy trì cam kết với bộ phận này—một nguồn việc làm rất quan trọng ở New Bedford và Manchester—và tin rằng có thể đạt được tỷ suất lợi nhuận hợp lý tính bình quân.
Insurance Underwriting
Nghiệp vụ bảo hiểm
Casualty insurers enjoyed some rebound from the disaster levels of 1975 as rate increases finally outstripped relentless cost increases. Preliminary figures indicate that the stockholder owned portion of the property and casualty industry had a combined ratio of 103.0 in 1976, compared to 108.3 in 1975. (100 represents a break‐even position on underwriting—and higher figures represent underwriting losses.) We are unusually concentrated in auto lines where stock companies had an improvement from 113.5 to 107.4. Our own overall improvement was even more dramatic, from 115.4 to 98.7.
Các công ty bảo hiểm trách nhiệm đã có được phần nào sự phục hồi từ mức thảm họa của năm 1975 khi các đợt tăng phí cuối cùng đã vượt qua đà tăng chi phí không ngừng. Số liệu sơ bộ cho thấy phần thuộc sở hữu cổ đông của ngành bảo hiểm tài sản và trách nhiệm (property and casualty) có tỷ lệ kết hợp (combined ratio) là 103,0 trong năm 1976, so với 108,3 năm 1975. (100 thể hiện trạng thái hòa vốn về nghiệp vụ bảo hiểm—và các con số cao hơn thể hiện lỗ nghiệp vụ bảo hiểm.) Chúng ta tập trung một cách bất thường vào các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới, nơi các công ty bảo hiểm cổ phần (stock companies) đã cải thiện từ 113,5 xuống 107,4. Mức cải thiện tổng thể của riêng chúng ta còn ấn tượng hơn nữa, từ 115,4 xuống 98,7.
Our major insurance sector in insurance, the traditional auto and general liability business of National Indemnity Company, had an outstanding year, achieving profit levels significantly better than the industry generally. Credit for this performance must be given to Phil Liesche, aided particularly by Roland Miller in Underwriting and Bill Lyons in Claims.
Mảng chủ lực của chúng ta trong lĩnh vực bảo hiểm, tức mảng kinh doanh truyền thống về bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm trách nhiệm chung (general liability) của National Indemnity Company, đã có một năm xuất sắc, đạt mức lợi nhuận tốt hơn đáng kể so với ngành nói chung. Công lao cho thành tích này phải được ghi nhận cho Phil Liesche, với sự hỗ trợ đặc biệt của Roland Miller ở bộ phận Nhận bảo hiểm (Underwriting) và Bill Lyons ở bộ phận Bồi thường.
Volume at National Indemnity Company grew rapidly during 1976 as competitors finally reacted to the inadequacy of past rates. But, as mentioned in last year’s annual report, we are concentrated heavily in lines that are particularly susceptible to both economic and social inflation. Thus present rates, which are adequate for today, will not be adequate tomorrow. Our opinion is that before long, perhaps in 1978, the industry will fall behind on rates as temporary prosperity produces unwise competition. If this happens, we must be prepared to meet the next wave of inadequate pricing by a significant reduction in volume.
Doanh thu phí bảo hiểm tại National Indemnity Company tăng nhanh trong năm 1976 khi các đối thủ cạnh tranh cuối cùng đã phản ứng trước sự không thỏa đáng của các mức phí trong quá khứ. Nhưng, như đã đề cập trong báo cáo thường niên năm ngoái, chúng ta tập trung rất lớn vào những nghiệp vụ đặc biệt dễ chịu tác động của cả lạm phát kinh tế lẫn lạm phát xã hội (social inflation). Vì vậy, các mức phí hiện tại, vốn thỏa đáng cho hôm nay, sẽ không thỏa đáng cho ngày mai. Quan điểm của chúng tôi là chẳng bao lâu nữa, có lẽ vào năm 1978, ngành sẽ tụt lại phía sau về mức phí khi sự thịnh vượng tạm thời sinh ra sự cạnh tranh thiếu khôn ngoan. Nếu điều này xảy ra, chúng ta phải sẵn sàng đối phó với làn sóng định giá không thỏa đáng tiếp theo bằng việc giảm đáng kể doanh thu phí bảo hiểm.
Reinsurance underwriting has lagged the improvement in direct business. When mistakes are made in the pricing of reinsurance, the effects continue for even longer than when similar mistakes are made in direct underwriting. George Young, an outstanding manager, has worked tirelessly to achieve his goal of profitable underwriting, and has cancelled a great many contracts where appropriate rate adjustments were not obtainable. Here, as in the direct business, we have had a concentration in casualty lines which have been particularly hard hit by inflationary conditions. The near term outlook still is not good for our reinsurance business.
Nghiệp vụ tái bảo hiểm (Reinsurance) đã tụt lại sau đà cải thiện của bảo hiểm gốc (direct business). Khi phạm sai lầm trong việc định giá tái bảo hiểm, hậu quả còn kéo dài hơn cả khi phạm những sai lầm tương tự trong nghiệp vụ bảo hiểm gốc. George Young, một nhà quản lý xuất sắc, đã làm việc không mệt mỏi để đạt được mục tiêu nghiệp vụ bảo hiểm có lãi của mình, và đã hủy bỏ rất nhiều hợp đồng mà ở đó không thể đạt được việc điều chỉnh mức phí thích đáng. Ở đây, cũng như trong mảng bảo hiểm gốc, chúng ta tập trung vào các nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm, vốn chịu tác động đặc biệt nặng nề từ các điều kiện lạm phát. Triển vọng ngắn hạn của mảng tái bảo hiểm của chúng ta vẫn chưa tốt.
Our “home state” operation continues to make substantial progress under the management of John Ringwalt. The combined ratio improved from 108.4 in 1975 to 102.7 in 1976. There still are some excess costs reflected in the combined ratio which result from the small size of several operations. Cornhusker Casualty Company, oldest and largest of the home state companies, was the winner of the Chairman’s Cup in 1976 for achievement of the lowest loss ratio among the home state companies. Cornhusker also achieved the lowest combined ratio in its history at 94.4, marking the fifth time in its six full years of existence that a ratio below 100 has been recorded. Premium growth was 78% at the home state companies in 1976, as market position improved significantly. We presently plan a new home state operation later this year.
Hoạt động “nội bang” (home state) của chúng ta tiếp tục đạt được tiến bộ đáng kể dưới sự quản lý của John Ringwalt. Tỷ lệ kết hợp đã cải thiện từ 108,4 năm 1975 xuống 102,7 năm 1976. Vẫn còn một số chi phí vượt mức được phản ánh trong tỷ lệ kết hợp, phát sinh do quy mô nhỏ của một vài đơn vị hoạt động. Cornhusker Casualty Company, công ty lâu đời nhất và lớn nhất trong số các công ty nội bang, đã giành Cúp Chủ tịch (Chairman’s Cup) năm 1976 nhờ đạt tỷ lệ bồi thường (loss ratio) thấp nhất trong số các công ty nội bang. Cornhusker cũng đạt tỷ lệ kết hợp thấp nhất trong lịch sử của mình ở mức 94,4, đánh dấu lần thứ năm trong sáu năm hoạt động trọn vẹn của công ty ghi nhận một tỷ lệ dưới 100. Mức tăng trưởng phí bảo hiểm tại các công ty nội bang là 78% trong năm 1976, khi vị thế thị trường cải thiện đáng kể. Hiện chúng tôi dự định mở một đơn vị hoạt động nội bang mới trong thời gian còn lại của năm nay.
Our Home and Automobile Insurance Company subsidiary, writing primarily automobile business in the Cook County area of Illinois, experienced a strong recovery in 1976. This is directly attributable to John Seward who, in his first full year, has revamped significantly both rating methods and marketing. The auto business has been shifted to a six month direct bill policy, which permits a faster reaction time to underwriting trends. Our general liability business at Home and Automobile has been expanded significantly with good results. While it remains to be proven that we can achieve sustained underwriting profitability at Home and Auto, we are delighted with the progress John Seward has achieved.
Công ty con Home and Automobile Insurance Company của chúng ta, chủ yếu nhận bảo hiểm xe cơ giới ở khu vực Quận Cook của Illinois, đã phục hồi mạnh mẽ trong năm 1976. Điều này có được trực tiếp là nhờ John Seward, người mà trong năm trọn vẹn đầu tiên của mình đã cải tổ đáng kể cả phương pháp định phí (rating methods) lẫn hoạt động tiếp thị. Mảng bảo hiểm xe cơ giới đã được chuyển sang hợp đồng thu phí trực tiếp (direct bill policy) kỳ hạn sáu tháng, cho phép phản ứng nhanh hơn trước các xu hướng của nghiệp vụ bảo hiểm. Mảng bảo hiểm trách nhiệm chung của chúng ta tại Home and Automobile đã được mở rộng đáng kể với kết quả tốt. Mặc dù vẫn còn phải chứng minh rằng chúng ta có thể đạt được khả năng sinh lời bền vững từ nghiệp vụ bảo hiểm tại Home and Auto, chúng tôi rất vui mừng với những tiến bộ mà John Seward đã đạt được.
Overall, we expect a good year in insurance in 1977. Volume is high and present rate levels should allow profitable underwriting. Longer term, however, there are significant negatives in the insurance picture. Auto lines, in particular, seem highly vulnerable to pricing and regulatory problems produced by political and social factors beyond the control of individual companies.
Nhìn chung, chúng tôi kỳ vọng một năm tốt đẹp cho mảng bảo hiểm trong năm 1977. Doanh thu phí bảo hiểm ở mức cao và các mức phí hiện tại dự kiến sẽ cho phép nghiệp vụ bảo hiểm có lãi. Tuy nhiên, về dài hạn, có những yếu tố tiêu cực đáng kể trong bức tranh bảo hiểm. Đặc biệt, các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới dường như rất dễ bị tổn thương trước các vấn đề về định giá và quy định quản lý phát sinh từ các yếu tố chính trị và xã hội nằm ngoài tầm kiểm soát của từng công ty riêng lẻ.
Insurance Investments
Đầu tư của mảng bảo hiểm
Pre‐tax investment income in 1976 improved to $10,820,000 from $8,918,000 as invested assets built up substantially, both from better levels of profitability and from gains in premium volume.
Thu nhập đầu tư trước thuế năm 1976 đã tăng lên 10.820.000 USD từ mức 8.918.000 USD khi tài sản đầu tư tăng lên đáng kể, nhờ cả mức sinh lời tốt hơn lẫn mức tăng doanh thu phí bảo hiểm.
In recent reports we have noted the unrealized depreciation in our bond account, but stated that we considered such market fluctuations of minor importance as our liquidity and general financial strength made it improbable that bonds would have to be sold at times other than those of our choice. The bond market rallied substantially in 1976, giving us moderate net unrealized gains at yearend in the bond portfolios of both our bank and insurance companies. This, too, is of minor importance since our intention is to hold a large portion of our bonds to maturity. The corollary to higher bond prices is that lower earnings are produced by the new funds generated for investment. On balance, we prefer a situation where our bond portfolio has a current market value less than carrying value, but more attractive rates are available on issues purchased with newly‐generated funds.
Trong các báo cáo gần đây, chúng tôi đã lưu ý về sụt giảm giá trị chưa thực hiện (unrealized depreciation) trong tài khoản trái phiếu của chúng ta, nhưng đã nói rằng chúng tôi coi những biến động thị trường như vậy chỉ có tầm quan trọng thứ yếu vì tính thanh khoản và sức mạnh tài chính nói chung của chúng ta khiến khó có khả năng phải bán trái phiếu vào những thời điểm không do chúng ta lựa chọn. Thị trường trái phiếu đã phục hồi mạnh trong năm 1976, mang lại cho chúng ta khoản lãi chưa thực hiện ròng (net unrealized gains) ở mức vừa phải vào cuối năm trong danh mục trái phiếu của cả ngân hàng lẫn các công ty bảo hiểm của chúng ta. Điều này cũng chỉ có tầm quan trọng thứ yếu vì ý định của chúng tôi là nắm giữ một phần lớn trái phiếu của chúng ta đến ngày đáo hạn. Hệ quả đi kèm của giá trái phiếu cao hơn là nguồn vốn mới tạo ra để đầu tư sẽ mang lại lợi nhuận thấp hơn. Cân nhắc mọi mặt, chúng tôi ưa thích tình huống mà danh mục trái phiếu của chúng ta có giá trị thị trường hiện tại thấp hơn giá trị ghi sổ (carrying value), nhưng có được lãi suất hấp dẫn hơn đối với các chứng khoán mua bằng nguồn vốn mới tạo ra.
Last year we stated that we expected 1976 to be a year of realized capital gains and, indeed, gains of $9,962,000 before tax, primarily from stocks, were realized during the year. It presently appears that 1977 also will be a year of net realized capital gains. We now have a substantial unrealized gain in our stock portfolio as compared to a substantial unrealized loss several years ago. Here again we consider such market fluctuations from year to year relatively unimportant; unrealized appreciation in our equity holdings, which amounted to $45.7 million at yearend, has declined by about $5 million as this is written on March 21st.
Năm ngoái chúng tôi đã nói rằng chúng tôi kỳ vọng năm 1976 sẽ là một năm của lãi vốn đã thực hiện (realized capital gains) và, quả thực, khoản lãi 9.962.000 USD trước thuế, chủ yếu từ cổ phiếu, đã được thực hiện trong năm. Hiện tại có vẻ như năm 1977 cũng sẽ là một năm của lãi vốn ròng đã thực hiện. Giờ đây chúng ta có một khoản lãi chưa thực hiện đáng kể trong danh mục cổ phiếu, so với một khoản lỗ chưa thực hiện đáng kể vài năm trước. Ở đây một lần nữa, chúng tôi coi những biến động thị trường như vậy từ năm này sang năm khác là tương đối không quan trọng; phần tăng giá chưa thực hiện của các khoản nắm giữ cổ phiếu của chúng ta, lên tới 45,7 triệu USD vào cuối năm, đã giảm khoảng 5 triệu USD tính đến thời điểm viết thư này, ngày 21 tháng 3.
However, we consider the yearly business progress of the companies in which we own stocks to be very important. And here, we have been delighted by the 1976 business performance achieved by most of our portfolio companies. If the business results continue excellent over a period of years, we are certain eventually to achieve good financial results from our stock holdings, regardless of wide year‐to‐year fluctuations in market values.
Tuy nhiên, chúng tôi coi tiến bộ kinh doanh hằng năm của các công ty mà chúng ta sở hữu cổ phiếu là rất quan trọng. Và ở mặt này, chúng tôi rất vui mừng với kết quả kinh doanh năm 1976 mà phần lớn các công ty trong danh mục của chúng ta đạt được. Nếu kết quả kinh doanh tiếp tục xuất sắc trong nhiều năm, chúng tôi chắc chắn rằng cuối cùng chúng ta sẽ đạt được kết quả tài chính tốt từ các khoản nắm giữ cổ phiếu của mình, bất kể giá trị thị trường biến động mạnh từ năm này sang năm khác.
Our equity holdings with a market value of over $3 million on December 31, 1976 were as follows:
Các khoản nắm giữ cổ phiếu của chúng ta có giá trị thị trường trên 3 triệu USD vào ngày 31 tháng 12 năm 1976 như sau:
No. of Shares Company Cost
141,987 California Water Service $3,608,711
Company
1,986,953 Government Employees 19,416,635
Insurance Company
Covertible Preferred
1,294,308 Government Employees 4,115,670
Insurance Company Common
Stock
395,100 Interpublic Group of 4,530,615
Companies
562,900 Kaiser Industries, Inc. 8,270,871
188,900 Munsingwear, Inc. 3,398,404
83,400 National Presto Industries, 1,689,896
Inc.
170,800 Ogilvy & Mather International 2,762,433
934,300 The Washington Post 10,627,604
Company Class B
Số cổ phiếu Công ty Giá gốc
141.987 California Water Service $3.608.711
Company
1.986.953 Government Employees 19.416.635
Insurance Company
Cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi
1.294.308 Government Employees 4.115.670
Insurance Company
Cổ phiếu phổ thông
395.100 Interpublic Group of 4.530.615
Companies
562.900 Kaiser Industries, Inc. 8.270.871
188.900 Munsingwear, Inc. 3.398.404
83.400 National Presto Industries, 1.689.896
Inc.
170.800 Ogilvy & Mather International 2.762.433
934.300 The Washington Post 10.627.604
Company, cổ phiếu loại B
Nhận bài mới qua email
Mỗi khi có bài hoặc video mới, một thư ngắn gửi tới hộp thư của bạn. Không gửi quảng cáo, huỷ lúc nào cũng được. Thích đọc bằng ứng dụng thì dùng RSS.
Email chỉ dùng để gửi bài mới. Chi tiết ở Chính sách bảo mật.