Thư cổ đông Berkshire Hathaway năm 1975
Lợi nhuận hoạt động 6.713.592 USD, tức 7,6% vốn đầu năm, thấp nhất từ 1967, dệt may lỗ nửa đầu năm rồi hồi lại, Berkshire mua Waumbec Mills ngày 28/04/1975.
Dịch từ bản gốc tại web.archive.org, phục vụ học tập, phi thương mại. Bản gốc: bản lưu Wayback Machine của rbcpa.com (lưu ngày 09/11/2012), không phải trang chính chủ.
Đoạn gốc tiếng Anh ở trên, bản dịch tiếng Việt ở dưới. Khi hai bản khác nhau, bản gốc là căn cứ.
To the Stockholders of Berkshire Hathaway Inc.:
Gửi các cổ đông của Berkshire Hathaway Inc.:
Last year, when discussing the prospects for 1975, we stated “the outlook for 1975 is not encouraging.” This forecast proved to be distressingly accurate. Our operating earnings for 1975 were $6,713,592, or $6.85 per share, producing a return on beginning shareholders’ equity of 7.6%. This is the lowest return on equity experienced since 1967. Furthermore, as explained later in this letter, a large segment of these earnings resulted from Federal income tax refunds which will not be available to assist performance in 1976.
Năm ngoái, khi bàn về triển vọng của năm 1975, chúng tôi đã nói rằng “triển vọng cho năm 1975 không mấy khả quan.” Dự báo này đã tỏ ra chính xác đến mức đáng buồn. Lợi nhuận hoạt động (operating earnings) của chúng ta năm 1975 là 6.713.592 USD, tức 6,85 USD mỗi cổ phiếu, tạo ra tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đầu năm của cổ đông là 7,6%. Đây là mức tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (return on equity) thấp nhất kể từ năm 1967. Hơn nữa, như sẽ được giải thích ở phần sau của thư này, một phần lớn số lợi nhuận này đến từ các khoản hoàn thuế thu nhập Liên bang, vốn sẽ không còn để hỗ trợ kết quả hoạt động trong năm 1976.
On balance, however, current trends indicate a somewhat brighter 1976. Operations and prospects will be discussed in greater detail below, under specific industry titles. Our expectation is that significantly better results in textiles, earnings added from recent acquisitions, an increase in equity in earnings of Blue Chip Stamps resulting from an enlarged ownership interest, and at least a moderate improvement in insurance underwriting results will more than offset other possible negatives to produce greater earnings in 1976. The major variable—and by far the most difficult to predict with any feeling of confidence—is the insurance underwriting result. Present very tentative indications are that underwriting improvement is in prospect. If such improvement is moderate, our overall gain in earnings in 1976 likewise will prove moderate. More significant underwriting improvement could give us a major gain in earnings.
Tuy nhiên, xét tổng thể, các xu hướng hiện tại cho thấy năm 1976 sẽ có phần sáng sủa hơn. Hoạt động và triển vọng sẽ được trình bày chi tiết hơn dưới đây, theo từng mục ngành cụ thể. Chúng tôi kỳ vọng rằng kết quả tốt hơn đáng kể trong mảng dệt may, phần lợi nhuận bổ sung từ các thương vụ mua lại gần đây, mức tăng phần lợi nhuận được hưởng (equity in earnings) từ Blue Chip Stamps nhờ tỷ lệ sở hữu được nâng lên, và ít nhất là một sự cải thiện vừa phải trong kết quả nghiệp vụ bảo hiểm (underwriting) sẽ dư sức bù đắp các yếu tố tiêu cực khác có thể xảy ra, để tạo ra lợi nhuận cao hơn trong năm 1976. Biến số chủ yếu—và cũng là biến số khó dự đoán nhất, hơn hẳn các biến số khác, nếu muốn dự đoán với chút tự tin nào—là kết quả nghiệp vụ bảo hiểm. Những dấu hiệu hiện tại, vốn còn rất sơ bộ, cho thấy nghiệp vụ bảo hiểm có triển vọng cải thiện. Nếu sự cải thiện đó ở mức vừa phải, mức tăng lợi nhuận tổng thể của chúng ta trong năm 1976 cũng sẽ ở mức vừa phải. Sự cải thiện nghiệp vụ bảo hiểm đáng kể hơn có thể đem lại cho chúng ta mức tăng lợi nhuận lớn.
Textile Operations
Hoạt động dệt may
During the first half of 1975 sales of textile products were extremely depressed, resulting in major production curtailments. Operations ran at a significant loss, with employment down as much as 53% from a year earlier.
Trong nửa đầu năm 1975, doanh số các sản phẩm dệt may sụt giảm cực kỳ nghiêm trọng, dẫn đến những đợt cắt giảm sản xuất lớn. Hoạt động bị lỗ đáng kể, với số lao động có lúc giảm tới 53% so với một năm trước đó.
In contrast with previous cyclical slumps, however, most textile producers quickly reduced production to match incoming orders, thus preventing massive industry‐wide accumulation of inventories. Such cutbacks caused quite prompt reflection at the mill operating level when demand revived at retail. As a result, beginning about midyear business rebounded at a fairly rapid rate. This “V” shaped textile depression, while one of the sharpest on record, also became one of the shortest ones in our experience. The fourth quarter produced an excellent profit for our textile division, bringing results for the year into the black.
Tuy nhiên, khác với những đợt suy thoái chu kỳ trước, phần lớn các nhà sản xuất dệt may đã nhanh chóng giảm sản lượng cho khớp với lượng đơn hàng nhận được, nhờ đó ngăn chặn tình trạng tồn kho tích tụ ồ ạt trên toàn ngành. Nhờ những đợt cắt giảm như vậy, khi nhu cầu ở khâu bán lẻ hồi phục, điều đó đã được phản ánh rất nhanh chóng ở cấp vận hành nhà máy. Kết quả là, bắt đầu từ khoảng giữa năm, hoạt động kinh doanh đã phục hồi với tốc độ khá nhanh. Đợt suy thoái dệt may hình chữ “V” này, dù là một trong những đợt suy thoái gay gắt nhất từng được ghi nhận, cũng đã trở thành một trong những đợt ngắn nhất theo kinh nghiệm của chúng tôi. Quý thứ tư đã đem lại mức lợi nhuận xuất sắc cho bộ phận dệt may của chúng ta, đưa kết quả cả năm về mức có lãi.
On April 28, 1975 we acquired Waumbec Mills Incorporated and Waumbec Dyeing and Finishing Co., Inc. located in Manchester, New Hampshire. These companies have long sold woven goods into the drapery and apparel trade. Such drapery materials complement and extend the line already marketed through the Home Fabrics Division of Berkshire Hathaway. In the period prior to our acquisition, the company had run at a very substantial loss, with only about 55% of looms in operation and the finishing plant operating at about 50% of capacity. Losses continued on a reduced basis for a few months after acquisition. Outstanding efforts by our manufacturing, administrative and sales people now have produced major improvements, which, coupled with the general revival in textiles, have moved Waumbec into a significant profit position.
Ngày 28 tháng 4 năm 1975, chúng ta đã mua lại Waumbec Mills Incorporated và Waumbec Dyeing and Finishing Co., Inc., đặt tại Manchester, New Hampshire. Các công ty này từ lâu đã bán hàng vải dệt thoi cho ngành rèm và ngành may mặc. Những chất liệu làm rèm này bổ sung và mở rộng dòng sản phẩm vốn đã được tiếp thị thông qua Bộ phận Vải gia dụng (Home Fabrics Division) của Berkshire Hathaway. Trong giai đoạn trước khi chúng ta mua lại, công ty đã hoạt động với mức lỗ rất lớn, chỉ khoảng 55% số khung dệt hoạt động và nhà máy hoàn tất vận hành ở khoảng 50% công suất. Khoản lỗ vẫn tiếp diễn ở mức giảm bớt trong vài tháng sau khi mua lại. Những nỗ lực xuất sắc của đội ngũ sản xuất, hành chính và bán hàng của chúng ta nay đã tạo ra những cải thiện lớn, mà cùng với sự phục hồi chung của ngành dệt may, đã đưa Waumbec vào vị thế có lãi đáng kể.
We expect a good level of profits from textiles in 1976. Continued progress is being made in the movement of Waumbec goods into areas of traditional marketing strength of Berkshire Hathaway, productivity should improve in both the weaving and finishing areas at Manchester, and textile demand continues to firm at decent prices.
Chúng tôi kỳ vọng mức lợi nhuận tốt từ mảng dệt may trong năm 1976. Tiến bộ liên tục đang được tạo ra trong việc đưa hàng của Waumbec vào những lĩnh vực mà Berkshire Hathaway có thế mạnh tiếp thị truyền thống, năng suất dự kiến sẽ cải thiện ở cả khâu dệt lẫn khâu hoàn tất tại Manchester, và nhu cầu dệt may tiếp tục vững lên với mức giá hợp lý.
We have great confidence in the ability of Ken Chace and his team to maximize our strengths in textiles. Therefore, we continue to look for ways to increase further our scale of operations while avoiding major capital investment in new fixed assets which we consider unwise, considering the relatively low returns historically earned on large scale investment in new textile equipment.
Chúng tôi rất tin tưởng vào khả năng của Ken Chace và đội ngũ của ông ấy trong việc phát huy tối đa thế mạnh của chúng ta trong mảng dệt may. Vì vậy, chúng tôi tiếp tục tìm cách mở rộng hơn nữa quy mô hoạt động, đồng thời tránh đầu tư vốn lớn vào tài sản cố định mới, điều mà chúng tôi cho là không khôn ngoan, xét đến mức sinh lời tương đối thấp mà việc đầu tư quy mô lớn vào thiết bị dệt mới từng đem lại trong lịch sử.
Insurance Underwriting
Nghiệp vụ bảo hiểm
The property and casualty insurance industry had its worst year in history during 1975. We did our share—unfortunately, even somewhat more. Really disastrous results were concentrated in auto and long‐tail (contracts where settlement of loss usually occurs long after the loss event) lines.
Ngành bảo hiểm tài sản và trách nhiệm (property and casualty) đã trải qua năm tồi tệ nhất trong lịch sử vào năm 1975. Chúng ta đã gánh phần của mình—thật không may, thậm chí còn nhiều hơn một chút. Những kết quả thực sự thảm hại tập trung ở nghiệp vụ ô tô và các nghiệp vụ đuôi dài (long‐tail; các hợp đồng mà việc giải quyết tổn thất thường diễn ra rất lâu sau sự kiện gây tổn thất).
Economic inflation, with the increase in cost of repairing humans and property far outstripping the general rate of inflation, produced ultimate loss costs which soared beyond premium levels established in a different cost environment. “Social” inflation caused the liability concept to be expanded continuously, far beyond limits contemplated when rates were established—in effect, adding coverage beyond what was paid for. Such social inflation increased significantly both the propensity to sue and the possibility of collecting mammoth jury awards for events not previously considered statistically significant in the establishment of rates. Furthermore, losses to policyholders which otherwise would result from mushrooming insolvencies of companies inadequately reacting to these problems are divided through Guaranty Funds among remaining solvent insurers. These trends will continue, and should moderate any optimism which otherwise might be justified by the sharply increased rates now taking effect. Berkshire Hathaway’s insurance subsidiaries have a disproportionate concentration of business in precisely the lines which produced the worst underwriting results in 1975. Such lines produce unusually high investment income and, therefore, have been particularly attractive to us under previous underwriting conditions. However, our “mix” has been very disadvantageous during the past two years and it well may be that we will remain positioned in the more difficult part of the insurance spectrum during the inflationary years ahead.
Lạm phát kinh tế, với mức tăng chi phí chữa trị con người và sửa chữa tài sản vượt xa tỷ lệ lạm phát chung, đã tạo ra chi phí tổn thất cuối cùng tăng vọt vượt quá các mức phí bảo hiểm được thiết lập trong một môi trường chi phí khác. Lạm phát “xã hội” khiến khái niệm trách nhiệm pháp lý liên tục bị mở rộng, vượt xa các giới hạn đã tính đến khi xây dựng biểu phí—về thực chất là bổ sung phạm vi bảo hiểm vượt quá những gì đã được trả tiền. Lạm phát xã hội (social inflation) như vậy đã làm gia tăng đáng kể cả xu hướng khởi kiện lẫn khả năng nhận được những phán quyết bồi thường khổng lồ của bồi thẩm đoàn cho những sự kiện mà trước đây không được coi là có ý nghĩa thống kê khi xây dựng biểu phí. Hơn nữa, những tổn thất mà lẽ ra bên mua bảo hiểm phải gánh chịu do làn sóng mất khả năng thanh toán đang lan nhanh của các công ty phản ứng không thỏa đáng trước những vấn đề này lại được phân chia, thông qua các Quỹ bảo đảm chi trả bảo hiểm (Guaranty Funds), cho các công ty bảo hiểm còn lại vẫn có khả năng thanh toán. Những xu hướng này sẽ còn tiếp diễn, và cần tiết chế bất kỳ sự lạc quan nào mà lẽ ra có thể có cơ sở nhờ các mức phí tăng mạnh hiện đang có hiệu lực. Các công ty con bảo hiểm của Berkshire Hathaway có tỷ trọng kinh doanh tập trung quá mức ở chính những nghiệp vụ đã cho kết quả nghiệp vụ bảo hiểm tồi tệ nhất trong năm 1975. Những nghiệp vụ này tạo ra thu nhập đầu tư cao bất thường và vì vậy, đã đặc biệt hấp dẫn đối với chúng tôi trong các điều kiện nghiệp vụ bảo hiểm trước đây. Tuy nhiên, “cơ cấu” nghiệp vụ của chúng ta đã rất bất lợi trong hai năm qua và rất có thể chúng ta sẽ vẫn ở vào phần khó khăn hơn của phổ bảo hiểm trong những năm lạm phát sắp tới.
The only segment to show improved results for us during 1975 was the “home state” operation, which has made continuous progress under the leadership of John Ringwalt. Although still operating at a significant underwriting loss, the combined ratio improved from 1974. Adjusted for excess costs attributable to operations still in the start‐up phase, underwriting results are satisfactory. Texas United Insurance Company, a major problem a few years ago, has made outstanding progress since George Billing has assumed command. With an almost totally new agency force, Texas United was the winner of the “Chairman’s Cup” for achievement of the lowest loss ratio among the home state companies. Cornhusker Casualty Company, oldest and largest of the home state companies, continues its outstanding operation with major gains in premium volume and a combined ratio slightly under 100. Substantial premium growth is expected at the home state operation during 1976; the measurement of success, however, will continue to be the achievement of a low combined ratio.
Mảng duy nhất có kết quả cải thiện đối với chúng ta trong năm 1975 là hoạt động “nội bang” (home state), vốn đã tiến bộ liên tục dưới sự lãnh đạo của John Ringwalt. Mặc dù vẫn đang chịu lỗ nghiệp vụ bảo hiểm đáng kể, tỷ lệ kết hợp (combined ratio) đã cải thiện so với năm 1974. Sau khi điều chỉnh các chi phí vượt mức do những hoạt động vẫn còn trong giai đoạn khởi đầu, kết quả nghiệp vụ bảo hiểm là thỏa đáng. Texas United Insurance Company, một vấn đề lớn cách đây vài năm, đã có tiến bộ xuất sắc kể từ khi George Billing nắm quyền chỉ huy. Với lực lượng đại lý gần như hoàn toàn mới, Texas United đã giành “Cúp Chủ tịch” (Chairman’s Cup) nhờ đạt tỷ lệ bồi thường (loss ratio) thấp nhất trong số các công ty nội bang. Cornhusker Casualty Company, công ty lâu đời nhất và lớn nhất trong số các công ty nội bang, tiếp tục hoạt động xuất sắc với mức tăng lớn về doanh thu phí bảo hiểm và tỷ lệ kết hợp thấp hơn 100 một chút. Dự kiến doanh thu phí bảo hiểm của hoạt động nội bang sẽ tăng trưởng đáng kể trong năm 1976; tuy nhiên, thước đo thành công vẫn sẽ tiếp tục là việc đạt được tỷ lệ kết hợp thấp.
Our traditional business at National Indemnity Company, representing well over half of our insurance volume, had an extraordinarily bad underwriting year in 1975. Although rates were increased frequently and significantly, they continually lagged loss experience throughout the year. Several special programs instituted in the early 1970s have caused significant losses, as well as a heavy drain on managerial time and energies. Present indications are that premium volume will show a major increase in 1976, and we hope that underwriting results will improve. Reinsurance suffered the same problems as our direct business during 1975. The same remedial efforts were attempted. Because reinsurance contract settlements lag those of direct business, it well may be that any upturn in results from our direct insurance business will precede those of the reinsurance segment.
Mảng kinh doanh truyền thống của chúng ta tại National Indemnity Company, chiếm hơn hẳn một nửa doanh thu phí bảo hiểm của chúng ta, đã trải qua một năm nghiệp vụ bảo hiểm tệ hại bất thường trong năm 1975. Mặc dù mức phí đã được tăng thường xuyên và đáng kể, chúng liên tục tụt lại sau diễn biến tổn thất suốt cả năm. Một số chương trình đặc biệt được triển khai vào đầu thập niên 1970 đã gây ra những khoản lỗ đáng kể, cũng như làm hao tổn nặng nề thời gian và sức lực của ban quản lý. Những dấu hiệu hiện tại cho thấy doanh thu phí bảo hiểm sẽ tăng mạnh trong năm 1976, và chúng tôi hy vọng rằng kết quả nghiệp vụ bảo hiểm sẽ cải thiện. Mảng tái bảo hiểm (Reinsurance) đã gặp phải những vấn đề giống như mảng bảo hiểm gốc (direct business) của chúng ta trong năm 1975. Những nỗ lực khắc phục tương tự cũng đã được thử áp dụng. Do việc giải quyết các hợp đồng tái bảo hiểm diễn ra chậm hơn so với bảo hiểm gốc, rất có thể bất kỳ sự khởi sắc nào về kết quả từ mảng bảo hiểm gốc của chúng ta sẽ đến trước sự khởi sắc của mảng tái bảo hiểm.
At our Home and Automobile Insurance Company subsidiary, now writing auto business only in the Cook County area of Illinois, experience continued very bad in 1975 resulting in a management change in October. John Seward was made President at that time, and has energetically and imaginatively implemented a completely revamped underwriting approach.
Tại công ty con Home and Automobile Insurance Company của chúng ta, hiện chỉ nhận bảo hiểm ô tô ở khu vực Quận Cook của Illinois, diễn biến tiếp tục rất xấu trong năm 1975, dẫn đến việc thay đổi ban quản lý vào tháng 10. John Seward được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc vào thời điểm đó, và đã triển khai một cách đầy năng lượng và sáng tạo một phương pháp nghiệp vụ bảo hiểm được cải tổ hoàn toàn.
Overall, our insurance operation will produce a substantial gain in premium volume during 1976. Much of this will reflect increased rates rather than more policies. Under normal circumstances such a gain in volume would be welcome, but our emotions are mixed at present. Underwriting experience should improve—and we expect it to—but our confidence level is not high. While our efforts will be devoted to obtaining a combined ratio below 100, it is unlikely to be attained during 1976.
Nhìn chung, hoạt động bảo hiểm của chúng ta sẽ đạt mức tăng đáng kể về doanh thu phí bảo hiểm trong năm 1976. Phần lớn mức tăng này sẽ phản ánh việc tăng mức phí chứ không phải tăng số hợp đồng bảo hiểm. Trong hoàn cảnh bình thường, mức tăng doanh thu như vậy sẽ được hoan nghênh, nhưng hiện tại cảm xúc của chúng tôi lẫn lộn. Kết quả nghiệp vụ bảo hiểm dự kiến sẽ cải thiện—và chúng tôi cũng kỳ vọng như vậy—nhưng mức độ tin tưởng của chúng tôi không cao. Mặc dù chúng tôi sẽ dồn nỗ lực để đạt được tỷ lệ kết hợp dưới 100, khó có khả năng đạt được điều đó trong năm 1976.
Insurance Investments
Đầu tư của mảng bảo hiểm
Gains in investment income were moderate during 1975 because premium volume remained flat and underwriting losses reduced funds available for investment. Invested assets, measured at cost at yearend, were close to identical with the level at the beginning of the year.
Mức tăng thu nhập đầu tư trong năm 1975 ở mức vừa phải do doanh thu phí bảo hiểm đi ngang và lỗ nghiệp vụ bảo hiểm làm giảm nguồn vốn sẵn có để đầu tư. Tài sản đầu tư, tính theo giá gốc vào cuối năm, gần như y hệt mức đầu năm.
At the end of 1974 the net unrealized loss in the stock section of our portfolio amounted to about $17 million, but we expressed the opinion, nevertheless, that this portfolio overall represented good value at its carrying value of cost. During 1975 a net capital loss of $2,888,000 before tax credits was realized, but our present expectation is that 1976 will be a year of realized capital gain. On March 31, 1976 our net unrealized gains applicable to equities amounted to about $15 million. Our equity investments are heavily concentrated in a few companies which are selected based on favorable economic characteristics, competent and honest management, and a purchase price attractive when measured against the yardstick of value to a private owner.
Vào cuối năm 1974, khoản lỗ chưa thực hiện ròng trong phần cổ phiếu của danh mục của chúng ta lên tới khoảng 17 triệu USD, nhưng dù vậy chúng tôi vẫn bày tỏ quan điểm rằng xét tổng thể, danh mục này là đáng giá ở mức giá trị ghi sổ (carrying value) theo giá gốc của nó. Trong năm 1975, chúng ta đã thực hiện khoản lỗ vốn ròng 2.888.000 USD trước tín dụng thuế (tax credits), nhưng kỳ vọng hiện tại của chúng tôi là năm 1976 sẽ là một năm có lãi vốn đã thực hiện (realized capital gain). Vào ngày 31 tháng 3 năm 1976, khoản lãi chưa thực hiện (unrealized gains) ròng của chúng ta đối với cổ phiếu lên tới khoảng 15 triệu USD. Các khoản đầu tư cổ phiếu của chúng ta tập trung cao độ vào một vài công ty được lựa chọn dựa trên các đặc điểm kinh tế thuận lợi, ban quản lý có năng lực và trung thực, và mức giá mua hấp dẫn khi đo bằng thước đo giá trị đối với một chủ sở hữu tư nhân.
When such criteria are maintained, our intention is to hold for a long time; indeed, our largest equity investment is 467,150 shares of Washington Post “B” stock with a cost of $10.6 million, which we expect to hold permanently.
Khi các tiêu chí như vậy được duy trì, chúng tôi có ý định nắm giữ trong thời gian dài; thực vậy, khoản đầu tư cổ phiếu lớn nhất của chúng ta là 467.150 cổ phiếu loại “B” của Washington Post với giá gốc 10,6 triệu USD, mà chúng tôi dự kiến sẽ nắm giữ vĩnh viễn.
With this approach, stock market fluctuations are of little importance to us—except as they may provide buying opportunities—but business performance is of major importance. On this score we have been delighted with progress made by practically all of the companies in which we now have significant investments.
Với cách tiếp cận này, biến động của thị trường chứng khoán ít có ý nghĩa đối với chúng tôi—ngoại trừ khi chúng có thể tạo ra cơ hội mua vào—nhưng kết quả kinh doanh thì có ý nghĩa rất lớn. Về mặt này, chúng tôi rất vui mừng với tiến bộ đạt được ở hầu như tất cả các công ty mà hiện chúng ta có các khoản đầu tư đáng kể.
We have continued to maintain a strong liquid position in our insurance companies. In last year’s annual report we explained how variations of 1/10 of 1% in interest rates result in million dollar swings in market value of our bonds. We consider such market fluctuation of minor importance as our liquidity and general financial strength make it highly improbable that bonds will have to be sold at times other than those of our choice.
Chúng ta đã tiếp tục duy trì trạng thái thanh khoản mạnh tại các công ty bảo hiểm của mình. Trong báo cáo thường niên năm ngoái, chúng tôi đã giải thích việc lãi suất biến động 1/10 của 1% dẫn đến những dao động cỡ hàng triệu USD trong giá trị thị trường của trái phiếu của chúng ta như thế nào. Chúng tôi coi biến động thị trường như vậy là ít quan trọng, vì khả năng thanh khoản và sức mạnh tài chính chung của chúng ta khiến cho việc phải bán trái phiếu vào những thời điểm không do chúng ta lựa chọn là điều rất khó xảy ra.
Banking
Ngân hàng
It is difficult to find adjectives to describe the performance of Eugene Abegg, Chief Executive of Illinois National Bank and Trust of Rockford, Illinois, our banking subsidiary.
Thật khó tìm được tính từ để mô tả thành tích của Eugene Abegg, Tổng giám đốc điều hành của Illinois National Bank and Trust ở Rockford, Illinois, công ty con ngân hàng của chúng ta.
In a year when many banking operations experienced major troubles, Illinois National continued its outstanding record. Against average loans of about $65 million, net loan losses were $24,000, or .04%. Unusually high liquidity is maintained with obligations of the U. S. Government and its agencies, all due within one year, at yearend amounting to about 75% of demand deposits. Maximum rates of interest are paid on all consumer savings instruments which make up more than $2 million, it consistently has generated favorable earnings. Positioned as we now are with respect to income taxes, the addition of a solid source of taxable income is particularly welcome.
Trong một năm mà nhiều hoạt động ngân hàng gặp rắc rối lớn, Illinois National vẫn tiếp tục thành tích xuất sắc của mình. So với dư nợ cho vay bình quân khoảng 65 triệu USD, tổn thất cho vay ròng là 24.000 USD, tức 0,04%. Mức thanh khoản cao bất thường được duy trì, với các nghĩa vụ nợ của Chính phủ Hoa Kỳ và các cơ quan của Chính phủ, tất cả đều đáo hạn trong vòng một năm, vào cuối năm lên tới khoảng 75% tiền gửi không kỳ hạn. Mức lãi suất tối đa được trả cho mọi công cụ tiết kiệm dành cho người tiêu dùng, vốn chiếm hơn 2 triệu USD, ngân hàng đã liên tục tạo ra lợi nhuận khả quan. Với vị thế hiện tại của chúng ta về thuế thu nhập, việc bổ sung một nguồn thu nhập chịu thuế vững chắc là điều đặc biệt đáng hoan nghênh.
General Review
Tổng quan
Your present management assumed responsibility at Berkshire Hathaway in May, 1965. At the end of the prior fiscal year (September, 1964) the net worth of the Company was $22.1 million, and 1,137,778 common shares were outstanding, with a resulting book value of $19.46 per share. Ten years earlier, Berkshire Hathaway’s net worth had been $53.4 million. Dividends and stock repurchases accounted for over $21 million of the decline in company net worth, but aggregate net losses of $9.8 million had been incurred on sales of $595 million during the decade.
Ban quản lý hiện tại của các bạn đã nhận trách nhiệm tại Berkshire Hathaway vào tháng 5 năm 1965. Vào cuối năm tài chính trước đó (tháng 9 năm 1964), giá trị tài sản ròng (net worth) của Công ty là 22,1 triệu USD, và có 1.137.778 cổ phiếu phổ thông đang lưu hành, tương ứng với giá trị sổ sách (book value) là 19,46 USD mỗi cổ phiếu. Mười năm trước đó, giá trị tài sản ròng của Berkshire Hathaway từng là 53,4 triệu USD. Cổ tức và việc mua lại (repurchases) cổ phiếu chiếm hơn 21 triệu USD trong mức sụt giảm giá trị tài sản ròng của công ty, nhưng tổng cộng các khoản lỗ ròng 9,8 triệu USD đã phát sinh trên doanh số 595 triệu USD trong thập kỷ đó.
In 1965, two New England textile mills were the company’s only sources of earning power and, before Ken Chace assumed responsibility for the operation, textile earnings had been erratic and, cumulatively, something less than zero subsequent to the merger of Berkshire Fine Spinning and Hathaway Manufacturing. Since 1964, net worth has been built to $92.9 million, or $94.92 per share. We have acquired total, or virtually total ownership of six businesses through negotiated purchases for cash (or cash and notes) from private owners, started four others, purchased a 31.5% interest in a large affiliate enterprise and reduced the number of outstanding shares of Berkshire Hathaway to 979,569. Overall, equity per share has compounded at an annual rate of slightly over 15%.
Vào năm 1965, hai nhà máy dệt ở New England là những nguồn khả năng sinh lời (earning power) duy nhất của công ty và, trước khi Ken Chace nhận trách nhiệm điều hành hoạt động này, lợi nhuận dệt may từng thất thường và, tính lũy kế, có phần thấp hơn số không kể từ sau vụ sáp nhập giữa Berkshire Fine Spinning và Hathaway Manufacturing. Kể từ năm 1964, giá trị tài sản ròng đã được xây dựng lên 92,9 triệu USD, tức 94,92 USD mỗi cổ phiếu. Chúng ta đã mua lại toàn bộ, hoặc gần như toàn bộ, quyền sở hữu sáu doanh nghiệp thông qua các thương vụ mua qua thương lượng bằng tiền mặt (hoặc tiền mặt và giấy nợ) từ các chủ sở hữu tư nhân, thành lập bốn doanh nghiệp khác, mua 31,5% cổ phần của một doanh nghiệp liên kết lớn và giảm số cổ phiếu đang lưu hành của Berkshire Hathaway xuống còn 979.569. Nhìn chung, vốn chủ sở hữu trên mỗi cổ phiếu đã tăng trưởng kép với tốc độ hằng năm hơn 15% một chút.
While 1975 was a major disappointment, efforts will continue to develop growing and diversified sources of earnings. Our objective is a conservatively financed and highly liquid business—possessing extra margins of balance sheet strength consistent with the fiduciary obligations inherent in the banking and insurance industries—which will produce a long term rate of return on equity capital exceeding that of American industry as a whole.
Mặc dù năm 1975 là một nỗi thất vọng lớn, các nỗ lực sẽ tiếp tục được thực hiện nhằm phát triển những nguồn lợi nhuận ngày càng tăng và đa dạng. Mục tiêu của chúng tôi là một doanh nghiệp được tài trợ vốn một cách thận trọng và có tính thanh khoản cao—sở hữu những biên độ dự phòng bổ sung về sức mạnh bảng cân đối kế toán, phù hợp với các nghĩa vụ ủy thác (fiduciary) vốn có trong ngành ngân hàng và bảo hiểm—sẽ tạo ra, xét trong dài hạn, một tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu vượt mức của toàn bộ ngành công nghiệp Mỹ nói chung.
Warren E. Buffett, Chairman
Warren E. Buffett, Chủ tịch
Nhận bài mới qua email
Mỗi khi có bài hoặc video mới, một thư ngắn gửi tới hộp thư của bạn. Không gửi quảng cáo, huỷ lúc nào cũng được. Thích đọc bằng ứng dụng thì dùng RSS.
Email chỉ dùng để gửi bài mới. Chi tiết ở Chính sách bảo mật.