Bỏ qua menu, tới nội dung
Học đầu tư giá trị cùng Buffett & MungerCủ khoai tây lười động đậy

Thư cổ đôngBuffett

Thư Buffett Partnership năm 1957

Dow mất 8,47%, ba quỹ lập năm 1956 lãi 6,2%, 7,8% và 25%, Buffett giải thích khoản đầu tư theo sự kiện (work-out) và vì sao quỹ làm tốt hơn khi thị trường xuống.

Buffett Partnership, Ltd., năm 1957. Bản dịch của Khoai Lười, đăng

Dịch từ bản gốc tại archive.org, phục vụ học tập, phi thương mại. Bản gốc: bản sưu tập Internet Archive (archive.org), không phải trang chính chủ.

Đoạn gốc tiếng Anh ở trên, bản dịch tiếng Việt ở dưới. Khi hai bản khác nhau, bản gốc là căn cứ.

SECOND ANNUAL LETTER TO LIMITED PARTNERS

THƯ THƯỜNG NIÊN THỨ HAI GỬI CÁC THÀNH VIÊN GÓP VỐN (LIMITED PARTNERS)

The General Stock Market Picture in 1957

Bức tranh chung của thị trường chứng khoán năm 1957

In last year's letter to partners, I said the following:

Trong thư năm ngoái gửi các thành viên, tôi đã nói như sau:

My view of the general market level is that it is priced above intrinsic value. This view relates to blue-chip securities. This view, if accurate, carries with it the possibility of a substantial decline in all stock prices, both undervalued and otherwise. In any event I think the probability is very slight that current market levels will be thought of as cheap five years from now. Even a full-scale bear market, however, should not hurt the market value of our work-outs substantially.

Quan điểm của tôi về mặt bằng của thị trường chung là thị trường đang được định giá cao hơn giá trị nội tại (intrinsic value). Quan điểm này liên quan đến các chứng khoán blue-chip. Quan điểm này, nếu chính xác, kéo theo khả năng giá của mọi cổ phiếu sụt giảm đáng kể, cả những cổ phiếu bị định giá thấp lẫn những cổ phiếu khác. Dù thế nào đi nữa, tôi cho rằng xác suất để mặt bằng thị trường hiện tại được coi là rẻ vào năm năm nữa là rất nhỏ. Tuy nhiên, ngay cả một thị trường giá xuống toàn diện cũng khó có thể làm tổn hại đáng kể đến giá trị thị trường của các khoản đầu tư theo sự kiện (work-outs) của chúng ta.

If the general market were to return to an undervalued status our capital might be employed exclusively in general issues and perhaps some borrowed money would be used in this operation at that time. Conversely, if the market should go considerably higher our policy will be to reduce our general issues as profits present themselves and increase the work-out portfolio.

Nếu thị trường chung quay trở lại trạng thái bị định giá thấp, vốn của chúng ta có thể sẽ được sử dụng hoàn toàn cho các khoản đầu tư thông thường (general issues) và có lẽ vào lúc đó một khoản tiền vay cũng sẽ được sử dụng trong hoạt động này. Ngược lại, nếu thị trường tăng cao hơn đáng kể, chính sách của chúng ta sẽ là giảm bớt các khoản đầu tư thông thường khi lợi nhuận xuất hiện và tăng danh mục các khoản đầu tư theo sự kiện.

All of the above is not intended to imply that market analysis is foremost in my mind. Primary attention is given at all times to the detection of substantially undervalued securities.

Tất cả những điều trên không nhằm ngụ ý rằng phân tích thị trường là điều tôi đặt lên hàng đầu. Sự chú ý chính luôn luôn được dành cho việc phát hiện những chứng khoán bị định giá thấp đáng kể.

The past year witnessed a moderate decline in stock prices. I stress the word "moderate" since casual reading of the press or conversing with those who have had only recent experience with stocks would tend to create an impression of a much greater decline. Actually, it appears to me that the decline in stock prices has been considerably less than the decline in corporate earning power under present business conditions. This means that the public is still very bullish on blue chip stocks and the general economic picture. I make no attempt to forecast either business or the stock market; the above is simply intended to dispel any notions that stocks have suffered any drastic decline or that the general market, is at a low level. I still consider the general market to be priced on the high side based on long term investment value.

Năm vừa qua đã chứng kiến một đợt giảm giá cổ phiếu ở mức vừa phải. Tôi nhấn mạnh từ "vừa phải" vì việc đọc báo chí qua loa hoặc trò chuyện với những người chỉ mới làm quen với cổ phiếu gần đây sẽ dễ tạo ra ấn tượng về một đợt giảm lớn hơn nhiều. Thực tế, theo tôi thấy, mức giảm của giá cổ phiếu thấp hơn đáng kể so với mức suy giảm khả năng sinh lời (earning power) của các doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh hiện nay. Điều này có nghĩa là công chúng vẫn rất lạc quan (bullish) về các cổ phiếu blue-chip và về bức tranh kinh tế chung. Tôi không hề cố gắng dự báo tình hình kinh doanh hay thị trường chứng khoán; những điều nói trên chỉ đơn giản nhằm xua tan mọi ý nghĩ rằng cổ phiếu đã trải qua một đợt giảm mạnh nào đó, hay rằng thị trường chung đang ở mức thấp. Tôi vẫn cho rằng thị trường chung đang được định giá ở mức hơi cao nếu dựa trên giá trị đầu tư dài hạn.

Our Activities in 1957

Hoạt động của chúng ta trong năm 1957

The market decline has created greater opportunity among undervalued situations so that, generally, our portfolio is heavier in undervalued situations relative to work-outs than it was last year. Perhaps an explanation of the term "work-out" is in order. A work-out is an investment which is dependent on a specific corporate action for its profit rather than a general advance in the price of the stock as in the case of undervalued situations. Work-outs come about through: sales, mergers, liquidations, tenders, etc. In each case, the risk is that something will upset the applecart and cause the abandonment of the planned action, not that the economic picture will deteriorate and stocks decline generally. At the end of 1956, we had a ratio of about 70-30 between general issues and work-outs. Now it is about 85-15.

Đợt giảm của thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội hơn trong số các tình huống bị định giá thấp, vì vậy, nhìn chung, tỷ trọng các tình huống bị định giá thấp so với các khoản đầu tư theo sự kiện trong danh mục của chúng ta hiện lớn hơn so với năm ngoái. Có lẽ cần giải thích thuật ngữ "work-out". Một khoản đầu tư theo sự kiện là một khoản đầu tư mà lợi nhuận phụ thuộc vào một hành động doanh nghiệp (corporate action) cụ thể, thay vì vào đà tăng chung của giá cổ phiếu như trong trường hợp các tình huống bị định giá thấp. Các khoản đầu tư theo sự kiện hình thành thông qua: các thương vụ bán, sáp nhập, thanh lý, chào mua công khai (tenders), v.v. Trong mỗi trường hợp, rủi ro là có điều gì đó làm đổ bể mọi chuyện và khiến hành động đã được lên kế hoạch bị hủy bỏ, chứ không phải là bức tranh kinh tế sẽ xấu đi và cổ phiếu giảm giá trên diện rộng. Vào cuối năm 1956, tỷ lệ giữa các khoản đầu tư thông thường và các khoản đầu tư theo sự kiện của chúng ta vào khoảng 70-30. Hiện nay tỷ lệ này vào khoảng 85-15.

During the past year we have taken positions in two situations which have reached a size where we may expect to take some part in corporate decisions. One of these positions accounts for between 10% and 20% of the portfolio of the various partnerships and the other accounts for about 5%. Both of these will probably take in the neighborhood of three to five years of work but they presently appear to have potential for a high average annual rate of return with a minimum of risk. While not in the classification of work-outs, they have very little dependence on the general action of the stock market. Should the general market have a substantial rise, of course, I would expect this section of our portfolio to lag behind the action of the market.

Trong năm qua, chúng ta đã xây dựng vị thế trong hai tình huống mà quy mô đã đạt tới mức chúng ta có thể kỳ vọng tham gia phần nào vào các quyết định của doanh nghiệp. Một trong hai vị thế này chiếm từ 10% đến 20% danh mục của các quỹ hợp danh khác nhau, và vị thế còn lại chiếm khoảng 5%. Cả hai có lẽ sẽ cần khoảng chừng ba đến năm năm công sức, nhưng hiện tại chúng dường như có tiềm năng mang lại tỷ suất sinh lời bình quân hằng năm cao với mức rủi ro tối thiểu. Mặc dù không thuộc nhóm các khoản đầu tư theo sự kiện, chúng rất ít phụ thuộc vào diễn biến chung của thị trường chứng khoán. Dĩ nhiên, nếu thị trường chung có một đợt tăng đáng kể, tôi dự đoán phần này trong danh mục của chúng ta sẽ tụt lại phía sau diễn biến của thị trường.

Results for 1957

Kết quả năm 1957

In 1957 the three partnerships which we formed in 1956 did substantially better than the general market. At the beginning of the year, the Dow-Jones Industrials stood at 499 and at the end of the year it was at 435 for a loss of 64 points. If one had owned the Averages, he would have received 22 points in dividends reducing the overall loss to 42 points or 8.470% for the year. This loss is roughly equivalent to what would have been achieved by investing in most investment funds and, to my knowledge, no investment fund invested in stocks showed a gain for the year.

Trong năm 1957, ba quỹ hợp danh mà chúng ta thành lập năm 1956 đã đạt kết quả tốt hơn đáng kể so với thị trường chung. Vào đầu năm, chỉ số Dow-Jones Industrials đứng ở mức 499 và vào cuối năm ở mức 435, tức là mất 64 điểm. Nếu một người đã nắm giữ các chỉ số bình quân, người đó sẽ nhận được 22 điểm cổ tức, làm giảm mức lỗ tổng thể xuống còn 42 điểm, tức 8,470% trong năm. Mức lỗ này gần tương đương với kết quả có thể đạt được nếu đầu tư vào hầu hết các quỹ đầu tư, và theo hiểu biết của tôi, không có quỹ đầu tư nào đầu tư vào cổ phiếu có lãi trong năm.

All three of the 1956 partnerships showed a gain during the year amounting to about 6.2%, 7.8% and 25% on yearend 1956 net worth. Naturally a question is created as to the vastly superior performance of the last partnership, particularly in the mind of the partners of the first two. This performance emphasizes the importance of luck in the short run, particularly in regard to when funds are received. The third partnership was started the latest in 1956 when the market was at a lower level and when several securities were particularly attractive. Because of the availability of funds, large positions were taken in these issues. Whereas the two partnerships formed earlier were already substantially invested so that they could only take relatively small positions in these issues.

Cả ba quỹ hợp danh thành lập năm 1956 đều có lãi trong năm, với mức lãi vào khoảng 6,2%, 7,8% và 25% trên giá trị tài sản ròng (net worth) cuối năm 1956. Đương nhiên, một câu hỏi được đặt ra về kết quả vượt trội hơn hẳn của quỹ hợp danh sau cùng, đặc biệt là trong suy nghĩ của các thành viên thuộc hai quỹ đầu. Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của may mắn trong ngắn hạn, đặc biệt là liên quan đến thời điểm nhận được vốn. Quỹ hợp danh thứ ba được thành lập muộn nhất trong năm 1956, khi thị trường ở mức thấp hơn và khi một số chứng khoán đặc biệt hấp dẫn. Nhờ có sẵn vốn, các vị thế lớn đã được xây dựng ở những chứng khoán này. Trong khi đó, hai quỹ hợp danh thành lập trước đã đầu tư phần lớn vốn nên chỉ có thể nắm giữ những vị thế tương đối nhỏ ở các chứng khoán này.

Basically, all partnerships are invested in the same securities and in approximately the same percentages. However, particularly during the initial stages, money becomes available at varying times and varying levels of the market so there is more variation in results than is likely to be the case in later years. Over the years, I will be quite satisfied with a performance that is 10% per year better than the Averages, so in respect to these three partnerships, 1957 was a successful and probably better than average, year.

Về cơ bản, tất cả các quỹ hợp danh đều đầu tư vào cùng các chứng khoán và với tỷ trọng xấp xỉ như nhau. Tuy nhiên, đặc biệt là trong các giai đoạn đầu, tiền vốn có được vào những thời điểm khác nhau và ở những mặt bằng thị trường khác nhau, nên kết quả chênh lệch nhiều hơn so với mức chênh lệch nhiều khả năng xảy ra trong những năm về sau. Qua nhiều năm, tôi sẽ hoàn toàn hài lòng với một kết quả tốt hơn các chỉ số bình quân 10% mỗi năm, vì vậy xét riêng đối với ba quỹ hợp danh này, năm 1957 là một năm thành công và có lẽ tốt hơn mức trung bình.

Two partnerships were started during the middle of 1957 and their results for the balance of the year were roughly the same as the performance of the Averages which were down about 12% for the period since inception of the 1957 partnerships. Their portfolios are now starting to approximate those of the 1956 partnerships and performance of the entire group should be much more comparable in the future.

Hai quỹ hợp danh được thành lập vào giữa năm 1957 và kết quả của chúng trong thời gian còn lại của năm gần tương đương với diễn biến của các chỉ số bình quân, vốn đã giảm khoảng 12% trong khoảng thời gian kể từ khi các quỹ hợp danh năm 1957 được thành lập. Danh mục của hai quỹ này hiện đang bắt đầu tiệm cận danh mục của các quỹ hợp danh năm 1956, và kết quả của cả nhóm dự kiến sẽ tương đồng hơn nhiều trong tương lai.

Interpretation of results

Diễn giải kết quả

To some extent our better than average performance in 1957 was due to the fact that it was a generally poor year for most stocks. Our performance, relatively, is likely to be better in a bear market than in a bull market so that deductions made from the above results should be tempered by the fact that it was the type of year when we should have done relatively well. In a year when the general market had a substantial advance I would be well satisfied to match the advance of the Averages.

Ở một mức độ nào đó, kết quả tốt hơn mức trung bình của chúng ta trong năm 1957 là do thực tế rằng năm đó nhìn chung là một năm kém khả quan đối với hầu hết các cổ phiếu. Xét một cách tương đối, kết quả của chúng ta nhiều khả năng sẽ tốt hơn trong thị trường giá xuống so với trong thị trường giá lên, vì vậy những suy luận rút ra từ các kết quả trên cần được tiết chế khi xét đến thực tế rằng đó là loại năm mà theo lẽ thường chúng ta sẽ đạt kết quả tương đối tốt. Trong một năm mà thị trường chung có một đợt tăng đáng kể, tôi sẽ rất hài lòng nếu theo kịp mức tăng của các chỉ số bình quân.

I can definitely say that our portfolio represents better value at the end of 1957 than it did at the end of 1956. This is due to both generally lower prices and the fact that we have had more time to acquire the more substantially undervalued securities which can only be acquired with patience. Earlier I mentioned our largest position which comprised 10% to 20% of the assets of the various partnerships. In time I plan to have this represent 20% of the assets of all partnerships but this cannot be hurried. Obviously during any acquisition period, our primary interest is to have the stock do nothing or decline rather than advance. Therefore, at any given time, a fair proportion of our portfolio may be in the sterile stage. This policy, while requiring patience, should maximize long term profits.

Tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng danh mục của chúng ta vào cuối năm 1957 thể hiện giá trị tốt hơn so với vào cuối năm 1956. Điều này là nhờ cả mặt bằng giá nhìn chung thấp hơn lẫn việc chúng ta đã có thêm thời gian để mua vào những chứng khoán bị định giá thấp đáng kể hơn, vốn chỉ có thể mua được bằng sự kiên nhẫn. Ở phần trên, tôi đã đề cập đến vị thế lớn nhất của chúng ta, chiếm từ 10% đến 20% tài sản của các quỹ hợp danh khác nhau. Theo thời gian, tôi dự định để vị thế này chiếm 20% tài sản của tất cả các quỹ hợp danh, nhưng việc này không thể vội vàng. Hiển nhiên, trong bất kỳ giai đoạn gom mua nào, mối quan tâm hàng đầu của chúng ta là để cổ phiếu đứng yên hoặc giảm giá thay vì tăng giá. Do đó, vào bất kỳ thời điểm nào, một phần khá lớn trong danh mục của chúng ta có thể đang ở giai đoạn không sinh lời (sterile stage). Chính sách này, tuy đòi hỏi sự kiên nhẫn, được kỳ vọng sẽ tối đa hóa lợi nhuận dài hạn.

I have tried to cover points which I felt might be of interest and disclose as much of our philosophy as may be imparted without talking of individual issues. If there are any questions concerning any phase of the operation, I would welcome hearing from you.

Tôi đã cố gắng đề cập đến những điểm mà tôi nghĩ có thể đáng quan tâm và công bố triết lý của chúng ta nhiều nhất trong chừng mực có thể truyền đạt mà không bàn đến từng chứng khoán cụ thể. Nếu có bất kỳ câu hỏi nào liên quan đến bất kỳ khía cạnh nào của hoạt động, tôi rất hoan nghênh được nghe ý kiến từ các bạn.

Nhận bài mới qua email

Mỗi khi có bài hoặc video mới, một thư ngắn gửi tới hộp thư của bạn. Không gửi quảng cáo, huỷ lúc nào cũng được. Thích đọc bằng ứng dụng thì dùng RSS.

Email chỉ dùng để gửi bài mới. Chi tiết ở Chính sách bảo mật.

Gymnopédie No. 1Erik Satie