Thư cổ đông Berkshire Hathaway năm 1995
Tài sản ròng tăng 5,3 tỷ USD, tức 45,0%, Berkshire mua Helzberg's, R.C. Willey và trả 2,3 tỷ USD cho nửa còn lại của GEICO, kèm đề xuất tái cấu trúc vốn.
Dịch từ bản gốc tại berkshirehathaway.com, phục vụ học tập, phi thương mại. Bản gốc: berkshirehathaway.com/letters/1995.html.
Đoạn gốc tiếng Anh ở trên, bản dịch tiếng Việt ở dưới. Khi hai bản khác nhau, bản gốc là căn cứ.
To the Shareholders of Berkshire Hathaway Inc.:
Gửi các cổ đông của Berkshire Hathaway Inc.:
Our gain in net worth during 1995 was $5.3 billion, or 45.0%. Per-share book value grew by a little less, 43.1%, because we paid stock for two acquisitions, increasing our shares outstanding by 1.3%. Over the last 31 years (that is, since present management took over) per-share book value has grown from $19 to $14,426, or at a rate of 23.6% compounded annually.
Mức tăng giá trị tài sản ròng (net worth) của chúng ta trong năm 1995 là 5,3 tỷ USD, tương đương 45,0%. Giá trị sổ sách (book value) trên mỗi cổ phiếu tăng ít hơn một chút, 43,1%, vì chúng ta đã trả bằng cổ phiếu cho hai thương vụ mua lại doanh nghiệp, làm số cổ phiếu đang lưu hành của chúng ta tăng thêm 1,3%. Trong 31 năm qua (tức là kể từ khi ban điều hành hiện tại tiếp quản), giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu đã tăng từ 19 USD lên 14.426 USD, tức là với tốc độ tăng trưởng kép hằng năm 23,6%.
There's no reason to do handsprings over 1995's gains. This was a year in which any fool could make a bundle in the stock market. And we did. To paraphrase President Kennedy, a rising tide lifts all yachts.
Chẳng có lý do gì để nhào lộn mừng rỡ vì các khoản lãi của năm 1995. Đây là một năm mà bất kỳ kẻ ngốc nào cũng có thể kiếm bộn tiền trên thị trường chứng khoán. Và chúng ta đã làm vậy. Phỏng theo lời Tổng thống Kennedy, thủy triều lên nâng mọi du thuyền.
Putting aside the financial results, there was plenty of good news at Berkshire last year: We negotiated three acquisitions of exactly the type we desire. Two of these, Helzberg's Diamond Shops and R.C. Willey Home Furnishings, are included in our 1995 financial statements, while our largest transaction, the purchase of GEICO, closed immediately after the end of the year. (I'll tell you more about all three acquisitions later in the report.)
Gác lại các kết quả tài chính, Berkshire đã có rất nhiều tin tốt trong năm ngoái: Chúng tôi đã đàm phán ba thương vụ mua lại doanh nghiệp đúng loại mà chúng tôi mong muốn. Hai trong số đó, Helzberg's Diamond Shops và R.C. Willey Home Furnishings, được đưa vào báo cáo tài chính năm 1995 của chúng ta, trong khi giao dịch lớn nhất của chúng ta, thương vụ mua GEICO, hoàn tất ngay sau khi kết thúc năm. (Tôi sẽ kể với các bạn nhiều hơn về cả ba thương vụ mua lại này ở phần sau của báo cáo.)
These new subsidiaries roughly double our revenues. Even so, the acquisitions neither materially increased our shares outstanding nor our debt. And, though these three operations employ over 11,000 people, our headquarters staff grew only from 11 to 12. (No sense going crazy.)
Các công ty con mới này làm doanh thu của chúng ta tăng xấp xỉ gấp đôi. Dù vậy, các thương vụ mua lại không làm tăng đáng kể số cổ phiếu đang lưu hành, cũng không làm tăng đáng kể nợ của chúng ta. Và, dù ba doanh nghiệp này sử dụng hơn 11.000 lao động, nhân sự trụ sở của chúng ta chỉ tăng từ 11 lên 12 người. (Chẳng việc gì phải phát cuồng.)
Charlie Munger, Berkshire's Vice Chairman and my partner, and I want to build a collection of companies - both wholly- and partly-owned - that have excellent economic characteristics and that are run by outstanding managers. Our favorite acquisition is the negotiated transaction that allows us to purchase 100% of such a business at a fair price. But we are almost as happy when the stock market offers us the chance to buy a modest percentage of an outstanding business at a pro-rata price well below what it would take to buy 100%. This double-barrelled approach - purchases of entire businesses through negotiation or purchases of part-interests through the stock market - gives us an important advantage over capital-allocators who stick to a single course. Woody Allen once explained why eclecticism works: "The real advantage of being bisexual is that it doubles your chances for a date on Saturday night."
Charlie Munger, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị của Berkshire và là người cộng sự của tôi, và tôi muốn xây dựng một tập hợp các công ty – cả sở hữu toàn bộ và sở hữu một phần – có đặc điểm kinh tế xuất sắc và do những nhà quản lý kiệt xuất điều hành. Hình thức mua lại ưa thích của chúng tôi là giao dịch qua thương lượng cho phép chúng tôi mua 100% một doanh nghiệp như vậy với giá hợp lý. Nhưng chúng tôi cũng vui gần như vậy khi thị trường chứng khoán cho chúng tôi cơ hội mua một tỷ lệ phần trăm khiêm tốn của một doanh nghiệp kiệt xuất với giá tính theo tỷ lệ sở hữu thấp hơn nhiều so với cái giá phải bỏ ra để mua 100%. Cách tiếp cận hai nòng này – mua toàn bộ doanh nghiệp thông qua thương lượng hoặc mua phần sở hữu một phần thông qua thị trường chứng khoán – mang lại cho chúng tôi một lợi thế quan trọng so với những người phân bổ vốn chỉ bám theo một hướng duy nhất. Woody Allen từng giải thích vì sao chủ nghĩa chiết trung lại hiệu quả: "Lợi thế thực sự của việc là người song tính là nó nhân đôi cơ hội có được một cuộc hẹn vào tối thứ Bảy."
Over the years, we've been Woody-like in our thinking, attempting to increase our marketable investments in wonderful businesses, while simultaneously trying to buy similar businesses in their entirety. The following table illustrates our progress on both fronts. In the tabulation, we show the marketable securities owned per share of Berkshire at ten-year intervals. A second column lists our per-share operating earnings (before taxes and purchase-price adjustments but after interest and corporate overhead) from all other activities. In other words, the second column shows what we earned excluding the dividends, interest and capital gains that we realized from investments. Purchase-price accounting adjustments are ignored for reasons we have explained at length in previous reports and which, as an act of mercy, we won't repeat. (We'll be glad to send masochists the earlier explanations, however.)
Qua nhiều năm, chúng tôi đã suy nghĩ theo kiểu Woody, cố gắng tăng các khoản đầu tư khả mại vào những doanh nghiệp tuyệt vời, đồng thời cố gắng mua trọn vẹn những doanh nghiệp tương tự. Bảng sau minh họa tiến bộ của chúng ta trên cả hai mặt trận. Trong bảng, chúng tôi trình bày lượng chứng khoán khả mại (marketable securities) sở hữu trên mỗi cổ phiếu Berkshire theo các mốc cách nhau mười năm. Cột thứ hai liệt kê lợi nhuận hoạt động (operating earnings) trên mỗi cổ phiếu của chúng ta (trước thuế và các điều chỉnh theo giá mua nhưng sau lãi vay và chi phí quản lý chung của công ty mẹ) từ tất cả các hoạt động khác. Nói cách khác, cột thứ hai cho thấy những gì chúng ta kiếm được, không tính cổ tức, tiền lãi và lãi vốn (capital gains) mà chúng ta đã thực hiện từ các khoản đầu tư. Các điều chỉnh kế toán theo giá mua (Purchase-price accounting adjustments) được bỏ qua vì những lý do mà chúng tôi đã giải thích cặn kẽ trong các báo cáo trước và, như một hành động nhân từ, chúng tôi sẽ không nhắc lại. (Tuy nhiên, chúng tôi sẽ vui lòng gửi những lời giải thích trước đây cho những ai thích tự hành xác.)
Year Marketable Securities Pre-tax Earnings Per Share
Per Share Excluding All Income from
Investments
1965 $4 $4.08
1975 159 (6.48)
1985 2,443 18.86
1995 22,088 258.20
Yearly Growth Rate 1965 - 95 33.4% 14.7%
Năm Chứng khoán khả mại Lợi nhuận trước thuế trên mỗi
trên mỗi cổ phiếu cổ phiếu, không gồm mọi thu nhập
từ đầu tư
1965 $4 $4,08
1975 159 (6,48)
1985 2.443 18,86
1995 22.088 258,20
Tăng trưởng hằng năm 1965 - 95 33,4% 14,7%
These results have not sprung from some master plan that we concocted in 1965. In a general way, we knew then what we hoped to accomplish but had no idea what specific opportunities might make it possible. Today we remain similarly unstructured: Over time, we expect to improve the figures in both columns but have no road map to tell us how that will come about.
Những kết quả này không xuất phát từ một kế hoạch tổng thể nào đó mà chúng tôi đã vạch ra vào năm 1965. Nói chung, khi đó chúng tôi biết mình hy vọng đạt được điều gì nhưng hoàn toàn không biết những cơ hội cụ thể nào có thể giúp biến điều đó thành hiện thực. Ngày nay chúng tôi vẫn không theo khuôn khổ định sẵn nào như vậy: Theo thời gian, chúng tôi kỳ vọng sẽ cải thiện các con số ở cả hai cột nhưng không có tấm bản đồ chỉ đường nào cho chúng tôi biết điều đó sẽ diễn ra như thế nào.
We proceed with two advantages: First, our operating managers are outstanding and, in most cases, have an unusually strong attachment to Berkshire. Second, Charlie and I have had considerable experience in allocating capital and try to go at that job rationally and objectively. The giant disadvantage we face is size: In the early years, we needed only good ideas, but now we need good big ideas. Unfortunately, the difficulty of finding these grows in direct proportion to our financial success, a problem that increasingly erodes our strengths.
Chúng ta tiến bước với hai lợi thế: Thứ nhất, các nhà quản lý điều hành của chúng ta rất kiệt xuất và, trong hầu hết các trường hợp, có sự gắn bó mạnh mẽ khác thường với Berkshire. Thứ hai, Charlie và tôi đã có kinh nghiệm đáng kể trong việc phân bổ vốn và cố gắng thực hiện công việc đó một cách lý trí và khách quan. Bất lợi khổng lồ mà chúng ta đối mặt là quy mô: Trong những năm đầu, chúng ta chỉ cần những ý tưởng tốt, nhưng giờ đây chúng ta cần những ý tưởng tốt và lớn. Không may là độ khó của việc tìm ra những ý tưởng này tăng tỷ lệ thuận với thành công tài chính của chúng ta, một vấn đề ngày càng bào mòn các thế mạnh của chúng ta.
I will have more to say about Berkshire's prospects later in this report, when I discuss our proposed recapitalization.
Tôi sẽ nói thêm về triển vọng của Berkshire ở phần sau của báo cáo này, khi bàn về đề xuất tái cơ cấu vốn (recapitalization) của chúng ta.
Acquisitions
Các thương vụ mua lại
It may seem strange that we exult over a year in which we made three acquisitions, given that we have regularly used these pages to question the acquisition activities of most managers. Rest assured, Charlie and I haven't lost our skepticism: We believe most deals do damage to the shareholders of the acquiring company. Too often, the words from HMS Pinafore apply: "Things are seldom what they seem, skim milk masquerades as cream." Specifically, sellers and their representatives invariably present financial projections having more entertainment value than educational value. In the production of rosy scenarios, Wall Street can hold its own against Washington.
Có vẻ lạ khi chúng tôi hân hoan về một năm mà chúng ta đã thực hiện ba thương vụ mua lại, trong khi chúng tôi thường xuyên dùng những trang này để đặt nghi vấn về các hoạt động mua lại của phần lớn các nhà quản lý. Xin các bạn yên tâm, Charlie và tôi vẫn chưa mất đi sự hoài nghi của mình: Chúng tôi tin rằng phần lớn các thương vụ gây thiệt hại cho cổ đông của bên mua (acquiring company). Quá thường xuyên, những lời trong vở HMS Pinafore lại ứng nghiệm: "Mọi thứ hiếm khi như vẻ ngoài, sữa tách béo đội lốt kem." Cụ thể, bên bán và những người đại diện của họ luôn luôn đưa ra các dự phóng tài chính có giá trị giải trí nhiều hơn giá trị giáo dục. Trong việc sản xuất những kịch bản màu hồng, Phố Wall có thể sánh ngang với Washington.
In any case, why potential buyers even look at projections prepared by sellers baffles me. Charlie and I never give them a glance, but instead keep in mind the story of the man with an ailing horse. Visiting the vet, he said: "Can you help me? Sometimes my horse walks just fine and sometimes he limps." The vet's reply was pointed: "No problem - when he's walking fine, sell him." In the world of mergers and acquisitions, that horse would be peddled as Secretariat.
Dù sao đi nữa, việc tại sao những người mua tiềm năng thậm chí còn nhìn vào các dự phóng do bên bán lập ra khiến tôi bối rối. Charlie và tôi không bao giờ liếc qua chúng, mà thay vào đó luôn ghi nhớ câu chuyện về người đàn ông có con ngựa ốm. Đến gặp bác sĩ thú y, ông ta nói: "Ông có thể giúp tôi không? Có lúc con ngựa của tôi đi lại hoàn toàn bình thường, có lúc nó lại đi khập khiễng." Câu trả lời của bác sĩ thú y rất thẳng thừng: "Không vấn đề gì – khi nó đang đi bình thường, hãy bán nó đi." Trong thế giới mua bán và sáp nhập, con ngựa đó sẽ được rao bán như thể nó là Secretariat.
At Berkshire, we have all the difficulties in perceiving the future that other acquisition-minded companies do. Like they also, we face the inherent problem that the seller of a business practically always knows far more about it than the buyer and also picks the time of sale - a time when the business is likely to be walking "just fine."
Tại Berkshire, chúng tôi gặp đủ mọi khó khăn trong việc nhìn thấu tương lai mà các công ty ham mua lại khác gặp phải. Cũng như họ, chúng tôi đối mặt với vấn đề cố hữu là người bán một doanh nghiệp hầu như luôn biết về doanh nghiệp đó nhiều hơn hẳn người mua và cũng là người chọn thời điểm bán – một thời điểm mà doanh nghiệp nhiều khả năng đang đi lại "hoàn toàn bình thường."
Even so, we do have a few advantages, perhaps the greatest being that we don't have a strategic plan. Thus we feel no need to proceed in an ordained direction (a course leading almost invariably to silly purchase prices) but can instead simply decide what makes sense for our owners. In doing that, we always mentally compare any move we are contemplating with dozens of other opportunities open to us, including the purchase of small pieces of the best businesses in the world via the stock market. Our practice of making this comparison - acquisitions against passive investments - is a discipline that managers focused simply on expansion seldom use.
Dù vậy, chúng tôi quả thực có một vài lợi thế, có lẽ lớn nhất là chúng tôi không có kế hoạch chiến lược. Vì thế chúng tôi không thấy cần phải đi theo một hướng đã định sẵn (một con đường gần như luôn dẫn tới những mức giá mua ngớ ngẩn) mà thay vào đó có thể đơn giản quyết định điều gì hợp lý cho các chủ sở hữu của chúng ta. Khi làm vậy, chúng tôi luôn so sánh trong đầu bất kỳ bước đi nào chúng tôi đang cân nhắc với hàng chục cơ hội khác đang mở ra cho chúng tôi, bao gồm cả việc mua những phần nhỏ của các doanh nghiệp tốt nhất thế giới thông qua thị trường chứng khoán. Thói quen thực hiện phép so sánh này – các thương vụ mua lại đặt cạnh các khoản đầu tư thụ động (passive investments) – là một kỷ luật mà những nhà quản lý chỉ chăm chăm vào việc mở rộng hiếm khi áp dụng.
Talking to Time Magazine a few years back, Peter Drucker got to the heart of things: "I will tell you a secret: Dealmaking beats working. Dealmaking is exciting and fun, and working is grubby. Running anything is primarily an enormous amount of grubby detail work . . . dealmaking is romantic, sexy. That's why you have deals that make no sense."
Trò chuyện với tạp chí Time vài năm trước, Peter Drucker đã đi thẳng vào cốt lõi vấn đề: "Tôi sẽ cho anh biết một bí mật: Làm thương vụ sướng hơn làm việc. Làm thương vụ thì hào hứng và vui, còn làm việc thì nhọc nhằn lấm lem. Điều hành bất cứ thứ gì chủ yếu là một khối lượng khổng lồ những công việc chi tiết nhọc nhằn lấm lem . . . làm thương vụ thì lãng mạn, quyến rũ. Đó là lý do vì sao lại có những thương vụ vô nghĩa."
In making acquisitions, we have a further advantage: As payment, we can offer sellers a stock backed by an extraordinary collection of outstanding businesses. An individual or a family wishing to dispose of a single fine business, but also wishing to defer personal taxes indefinitely, is apt to find Berkshire stock a particularly comfortable holding. I believe, in fact, that this calculus played an important part in the two acquisitions for which we paid shares in 1995.
Khi thực hiện các thương vụ mua lại, chúng tôi còn có thêm một lợi thế: Để thanh toán, chúng tôi có thể đưa cho bên bán một loại cổ phiếu có hậu thuẫn là một tập hợp phi thường những doanh nghiệp kiệt xuất. Một cá nhân hay một gia đình muốn chuyển nhượng một doanh nghiệp tốt duy nhất, nhưng cũng muốn hoãn thuế thu nhập cá nhân vô thời hạn, nhiều khả năng sẽ thấy cổ phiếu Berkshire là một tài sản nắm giữ đặc biệt dễ chịu. Thực tế, tôi tin rằng phép tính này đã đóng một vai trò quan trọng trong hai thương vụ mua lại mà chúng ta trả bằng cổ phiếu trong năm 1995.
Beyond that, sellers sometimes care about placing their companies in a corporate home that will both endure and provide pleasant, productive working conditions for their managers. Here again, Berkshire offers something special. Our managers operate with extraordinary autonomy. Additionally, our ownership structure enables sellers to know that when I say we are buying to keep, the promise means something. For our part, we like dealing with owners who care what happens to their companies and people. A buyer is likely to find fewer unpleasant surprises dealing with that type of seller than with one simply auctioning off his business.
Ngoài ra, bên bán đôi khi quan tâm đến việc đặt công ty của họ vào một mái nhà doanh nghiệp vừa trường tồn vừa mang lại điều kiện làm việc dễ chịu, hiệu quả cho các nhà quản lý của họ. Ở điểm này nữa, Berkshire mang lại điều gì đó đặc biệt. Các nhà quản lý của chúng ta hoạt động với quyền tự chủ phi thường. Thêm vào đó, cơ cấu sở hữu của chúng ta giúp bên bán biết rằng khi tôi nói chúng tôi mua để giữ, lời hứa đó có ý nghĩa. Về phần mình, chúng tôi thích giao dịch với những chủ sở hữu quan tâm đến chuyện gì sẽ xảy ra với công ty và con người của họ. Một người mua nhiều khả năng sẽ gặp ít bất ngờ khó chịu hơn khi giao dịch với kiểu người bán đó so với một người chỉ đơn giản đem doanh nghiệp của mình ra bán đấu giá.
In addition to the foregoing being an explanation of our acquisition style, it is, of course, a not-so-subtle sales pitch. If you own or represent a business earning $25 million or more before tax, and it fits the criteria listed on page 23, just give me a call. Our discussion will be confidential. And if you aren't interested now, file our proposition in the back of your mind: We are never going to lose our appetite for buying companies with good economics and excellent management.
Bên cạnh việc là lời giải thích về phong cách mua lại của chúng tôi, những điều nói trên, tất nhiên, cũng là một lời chào hàng chẳng mấy tế nhị. Nếu các bạn sở hữu hoặc đại diện cho một doanh nghiệp có lợi nhuận trước thuế từ 25 triệu USD trở lên, và doanh nghiệp đó phù hợp với các tiêu chí liệt kê ở trang 23, chỉ cần gọi điện cho tôi. Cuộc trao đổi của chúng ta sẽ được giữ bí mật. Và nếu bây giờ các bạn chưa quan tâm, hãy cất lời đề nghị của chúng tôi vào một góc trong tâm trí: Chúng tôi sẽ không bao giờ mất đi sự thèm muốn mua những công ty có đặc điểm kinh tế tốt và ban điều hành xuất sắc.
Concluding this little dissertation on acquisitions, I can't resist repeating a tale told me last year by a corporate executive. The business he grew up in was a fine one, with a long-time record of leadership in its industry. Its main product, however, was distressingly glamourless. So several decades ago, the company hired a management consultant who - naturally - advised diversification, the then-current fad. ("Focus" was not yet in style.) Before long, the company acquired a number of businesses, each after the consulting firm had gone through a long - and expensive - acquisition study. And the outcome? Said the executive sadly, "When we started, we were getting 100% of our earnings from the original business. After ten years, we were getting 150%."
Khép lại bài luận nhỏ này về các thương vụ mua lại, tôi không cưỡng lại được việc kể lại một câu chuyện mà một nhà điều hành doanh nghiệp đã kể cho tôi năm ngoái. Doanh nghiệp nơi ông ấy trưởng thành trong nghề là một doanh nghiệp tốt, với thành tích dẫn đầu ngành từ lâu. Tuy nhiên, sản phẩm chính của doanh nghiệp này lại kém hào nhoáng đến đáng buồn. Vì vậy vài thập kỷ trước, công ty đã thuê một chuyên gia tư vấn quản lý, người – đương nhiên – khuyên nên đa dạng hóa, trào lưu thịnh hành lúc bấy giờ. ("Tập trung" khi đó chưa thành mốt.) Chẳng bao lâu sau, công ty đã mua lại một số doanh nghiệp, mỗi thương vụ đều diễn ra sau khi công ty tư vấn đã thực hiện một nghiên cứu mua lại dài – và tốn kém. Còn kết quả thì sao? Nhà điều hành buồn bã nói, "Khi chúng tôi bắt đầu, chúng tôi thu được 100% lợi nhuận từ doanh nghiệp ban đầu. Sau mười năm, chúng tôi thu được 150%."
A few years back, management consultants popularized a technique called "management by walking around" (MBWA). At Berkshire, we've instituted ABWA (acquisitions by walking around).
Vài năm trước, các chuyên gia tư vấn quản lý đã phổ biến một kỹ thuật gọi là "quản lý bằng cách đi dạo" (MBWA). Tại Berkshire, chúng tôi đã thiết lập ABWA (mua lại bằng cách đi dạo).
In May 1994, a week or so after the Annual Meeting, I was crossing the street at 58th and Fifth Avenue in New York, when a woman called out my name. I listened as she told me she'd been to, and had enjoyed, the Annual Meeting. A few seconds later, a man who'd heard the woman stop me did so as well. He turned out to be Barnett Helzberg, Jr., who owned four shares of Berkshire and had also been at our meeting.
Vào tháng 5 năm 1994, khoảng một tuần sau Đại hội cổ đông thường niên, tôi đang băng qua đường ở góc Phố 58 và Đại lộ Số 5 tại New York thì một người phụ nữ gọi tên tôi. Tôi lắng nghe bà ấy kể rằng bà đã đến dự, và rất thích, Đại hội cổ đông thường niên. Vài giây sau, một người đàn ông đã nghe thấy người phụ nữ gọi tôi dừng lại cũng làm như vậy. Hóa ra đó là Barnett Helzberg, Jr., người sở hữu bốn cổ phiếu Berkshire và cũng đã có mặt tại đại hội của chúng ta.
In our few minutes of conversation, Barnett said he had a business we might be interested in. When people say that, it usually turns out they have a lemonade stand - with potential, of course, to quickly grow into the next Microsoft. So I simply asked Barnett to send me particulars. That, I thought to myself. will be the end of that.
Trong vài phút trò chuyện, Barnett nói rằng ông ấy có một doanh nghiệp mà chúng tôi có thể quan tâm. Khi người ta nói vậy, thường thì hóa ra họ có một quầy bán nước chanh – tất nhiên là với tiềm năng nhanh chóng phát triển thành Microsoft tiếp theo. Vì vậy tôi chỉ đơn giản đề nghị Barnett gửi cho tôi thông tin chi tiết. Tôi tự nhủ, chuyện này sẽ dừng ở đó.
Not long after, Barnett sent me the financial statements of Helzberg's Diamond Shops. The company had been started by his grandfather in 1915 from a single store in Kansas City and had developed by the time we met into a group with 134 stores in 23 states. Sales had grown from $10 million in 1974 to $53 million in 1984 and $282 million in 1994. We weren't talking lemonade stands.
Không lâu sau, Barnett gửi cho tôi báo cáo tài chính của Helzberg's Diamond Shops. Công ty do ông nội của ông ấy khởi lập năm 1915 từ một cửa hàng duy nhất ở Kansas City và đến thời điểm chúng tôi gặp nhau đã phát triển thành một chuỗi với 134 cửa hàng tại 23 bang. Doanh thu đã tăng từ 10 triệu USD năm 1974 lên 53 triệu USD năm 1984 và 282 triệu USD năm 1994. Thứ chúng tôi đang bàn đến chẳng phải là những quầy bán nước chanh.
Barnett, then 60, loved the business but also wanted to feel free of it. In 1988, as a step in that direction, he had brought in Jeff Comment, formerly President of Wanamaker's, to help him run things. The hiring of Jeff turned out to be a homerun, but Barnett still found that he couldn't shake a feeling of ultimate responsibility. Additionally, he owned a valuable asset that was subject to the vagaries of a single, very competitive industry, and he thought it prudent to diversify his family's holdings.
Barnett, khi đó 60 tuổi, yêu doanh nghiệp này nhưng cũng muốn cảm thấy thoát khỏi nó. Năm 1988, như một bước đi theo hướng đó, ông ấy đã mời Jeff Comment, nguyên tổng giám đốc của Wanamaker's, về giúp ông điều hành công việc. Việc thuê Jeff hóa ra là một cú home run, nhưng Barnett vẫn thấy mình không thể rũ bỏ cảm giác phải chịu trách nhiệm sau cùng. Thêm vào đó, ông ấy sở hữu một tài sản giá trị phụ thuộc vào những biến động thất thường của một ngành duy nhất, có tính cạnh tranh rất cao, và ông cho rằng đa dạng hóa tài sản nắm giữ của gia đình mình là điều khôn ngoan.
Berkshire was made to order for him. It took us awhile to get together on price, but there was never any question in my mind that, first, Helzberg's was the kind of business that we wanted to own and, second, Jeff was our kind of manager. In fact, we would not have bought the business if Jeff had not been there to run it. Buying a retailer without good management is like buying the Eiffel Tower without an elevator.
Berkshire như được đặt làm riêng cho ông ấy. Chúng tôi mất một thời gian mới thống nhất được về giá, nhưng trong đầu tôi chưa bao giờ có chút nghi ngờ nào rằng, thứ nhất, Helzberg's là loại doanh nghiệp mà chúng tôi muốn sở hữu và, thứ hai, Jeff là kiểu nhà quản lý của chúng tôi. Thực tế, chúng tôi sẽ không mua doanh nghiệp này nếu Jeff không có mặt ở đó để điều hành nó. Mua một nhà bán lẻ mà không có ban điều hành giỏi cũng giống như mua tháp Eiffel mà không có thang máy.
We completed the Helzberg purchase in 1995 by means of a tax-free exchange of stock, the only kind of transaction that interested Barnett. Though he was certainly under no obligation to do so, Barnett shared a meaningful part of his proceeds from the sale with a large number of his associates. When someone behaves that generously, you know you are going to be treated right as a buyer.
Chúng ta đã hoàn tất thương vụ mua Helzberg trong năm 1995 bằng hình thức hoán đổi cổ phiếu miễn thuế (tax-free exchange of stock), loại giao dịch duy nhất mà Barnett quan tâm. Dù chắc chắn không có nghĩa vụ phải làm vậy, Barnett đã chia một phần đáng kể số tiền thu được từ thương vụ bán cho một số lượng lớn cộng sự của ông ấy. Khi một người cư xử hào phóng đến vậy, người ta biết rằng mình sẽ được đối xử đúng mực với tư cách là bên mua.
The average Helzberg's store has annual sales of about $2 million, far more than competitors operating similarly-sized stores achieve. This superior per-store productivity is the key to Helzberg's excellent profits. If the company continues its first-rate performance - and we believe it will - it could grow rather quickly to several times its present size.
Một cửa hàng Helzberg's trung bình có doanh thu hằng năm khoảng 2 triệu USD, cao hơn nhiều so với mức mà các đối thủ vận hành cửa hàng có quy mô tương tự đạt được. Năng suất vượt trội trên mỗi cửa hàng này là chìa khóa tạo nên lợi nhuận xuất sắc của Helzberg's. Nếu công ty tiếp tục hoạt động hạng nhất như vậy – và chúng tôi tin rằng công ty sẽ làm được – công ty có thể tăng trưởng khá nhanh lên gấp vài lần quy mô hiện tại.
Helzberg's, it should be added, is an entirely different sort of operation from Borsheim's, our Omaha jewelry business, and the two companies will operate independently of each other.
Cũng cần nói thêm rằng Helzberg's là một mô hình hoạt động hoàn toàn khác với Borsheim's, doanh nghiệp trang sức của chúng ta tại Omaha, và hai công ty sẽ hoạt động độc lập với nhau.
Borsheim's had an excellent year in 1995, with sales up 11.7%. Susan Jacques, its 36-year-old CEO, had an even better year, giving birth to her second son at the start of the Christmas season. Susan has proved to be a terrific leader in the two years since her promotion.
Borsheim's đã có một năm xuất sắc trong năm 1995, với doanh thu tăng 11,7%. Susan Jacques, CEO 36 tuổi của công ty, còn có một năm tốt hơn nữa, khi sinh con trai thứ hai vào đầu mùa Giáng sinh. Susan đã chứng tỏ là một nhà lãnh đạo tuyệt vời trong hai năm kể từ khi được đề bạt.
It was Nebraska Furniture Mart's Irv Blumkin who did the walking around in the case of R.C. Willey, long the leading home furnishings business in Utah. Over the years, Irv had told me about the strengths of that company. And he had also told Bill Child, CEO of R.C. Willey, how pleased the Blumkin family had been with its Berkshire relationship. So in early 1995, Bill mentioned to Irv that for estate tax and diversification reasons, he and the other owners of R.C. Willey might be interested in selling.
Chính Irv Blumkin của Nebraska Furniture Mart là người đã đi dạo trong trường hợp R.C. Willey, doanh nghiệp nội thất gia đình dẫn đầu lâu năm tại Utah. Qua nhiều năm, Irv đã kể với tôi về những thế mạnh của công ty đó. Và ông ấy cũng đã kể với Bill Child, CEO của R.C. Willey, rằng gia đình Blumkin hài lòng như thế nào với mối quan hệ với Berkshire. Vì vậy vào đầu năm 1995, Bill đã nói với Irv rằng vì lý do thuế di sản (estate tax) và đa dạng hóa, ông ấy và các chủ sở hữu khác của R.C. Willey có thể quan tâm đến việc bán.
From that point forward, things could not have been simpler. Bill sent me some figures, and I wrote him a letter indicating my idea of value. We quickly agreed on a number, and found our personal chemistry to be perfect. By mid-year, the merger was completed.
Từ thời điểm đó trở đi, mọi việc không thể đơn giản hơn. Bill gửi cho tôi một số số liệu, và tôi viết cho ông ấy một lá thư nêu ý kiến của tôi về giá trị. Chúng tôi nhanh chóng thống nhất được một con số, và thấy rằng chúng tôi hợp nhau một cách hoàn hảo. Đến giữa năm, thương vụ sáp nhập đã hoàn tất.
R.C. Willey is an amazing story. Bill took over the business from his father-in-law in 1954 when sales were about $250,000. From this tiny base, Bill employed Mae West's philosophy: "It's not what you've got - it's what you do with what you've got." Aided by his brother, Sheldon, Bill has built the company to its 1995 sales volume of $257 million, and it now accounts for over 50% of the furniture business in Utah. Like Nebraska Furniture Mart, R.C. Willey sells appliances, electronics, computers and carpets in addition to furniture. Both companies have about the same sales volume, but NFM gets all of its business from one complex in Omaha, whereas R.C. Willey will open its sixth major store in the next few months.
R.C. Willey là một câu chuyện đáng kinh ngạc. Bill tiếp quản doanh nghiệp từ bố vợ vào năm 1954 khi doanh thu vào khoảng 250.000 USD. Từ nền tảng nhỏ bé này, Bill đã vận dụng triết lý của Mae West: "Điều quan trọng không phải là bạn có gì – mà là bạn làm gì với những gì bạn có." Được người anh em trai là Sheldon hỗ trợ, Bill đã xây dựng công ty đạt doanh thu 257 triệu USD năm 1995, và công ty hiện chiếm hơn 50% hoạt động kinh doanh đồ nội thất tại Utah. Giống như Nebraska Furniture Mart, R.C. Willey bán đồ gia dụng, đồ điện tử, máy tính và thảm bên cạnh đồ nội thất. Cả hai công ty có doanh thu xấp xỉ nhau, nhưng NFM thu toàn bộ doanh thu từ một khu phức hợp ở Omaha, trong khi R.C. Willey sẽ khai trương cửa hàng lớn thứ sáu của mình trong vài tháng tới.
Retailing is a tough business. During my investment career, I have watched a large number of retailers enjoy terrific growth and superb returns on equity for a period, and then suddenly nosedive, often all the way into bankruptcy. This shooting-star phenomenon is far more common in retailing than it is in manufacturing or service businesses. In part, this is because a retailer must stay smart, day after day. Your competitor is always copying and then topping whatever you do. Shoppers are meanwhile beckoned in every conceivable way to try a stream of new merchants. In retailing, to coast is to fail.
Bán lẻ là một ngành kinh doanh khắc nghiệt. Trong sự nghiệp đầu tư của mình, tôi đã chứng kiến rất nhiều nhà bán lẻ tận hưởng mức tăng trưởng tuyệt vời và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (return on equity) xuất sắc trong một thời gian, rồi đột ngột lao dốc, thường là rơi thẳng tới phá sản. Hiện tượng sao băng này phổ biến trong ngành bán lẻ hơn nhiều so với trong các ngành sản xuất hay dịch vụ. Một phần là vì nhà bán lẻ phải luôn khôn ngoan, ngày qua ngày. Đối thủ cạnh tranh luôn sao chép rồi vượt mặt bất cứ điều gì mình làm. Trong khi đó, người mua sắm được mời gọi bằng mọi cách có thể tưởng tượng được để thử một loạt nhà bán lẻ mới. Trong ngành bán lẻ, thả trôi là thất bại.
In contrast to this have-to-be-smart-every-day business, there is what I call the have-to-be-smart-once business. For example, if you were smart enough to buy a network TV station very early in the game, you could put in a shiftless and backward nephew to run things, and the business would still do well for decades. You'd do far better, of course, if you put in Tom Murphy, but you could stay comfortably in the black without him. For a retailer, hiring that nephew would be an express ticket to bankruptcy.
Đối lập với ngành kinh doanh phải-khôn-ngoan-mỗi-ngày này là loại mà tôi gọi là ngành kinh doanh chỉ-cần-khôn-ngoan-một-lần. Ví dụ, nếu đủ khôn ngoan để mua một đài truyền hình thuộc mạng lưới truyền hình từ rất sớm, người ta có thể đặt một đứa cháu trai lười nhác và kém cỏi vào điều hành, và doanh nghiệp vẫn sẽ hoạt động tốt trong nhiều thập kỷ. Tất nhiên, người ta sẽ làm tốt hơn nhiều nếu đặt Tom Murphy vào đó, nhưng không có ông ấy thì vẫn có thể có lãi một cách thoải mái. Đối với một nhà bán lẻ, việc thuê đứa cháu trai đó sẽ là tấm vé tốc hành đến phá sản.
The two retailing businesses we purchased this year are blessed with terrific managers who love to compete and have done so successfully for decades. Like the CEOs of our other operating units, they will operate autonomously: We want them to feel that the businesses they run are theirs. This means no second-guessing by Charlie and me. We avoid the attitude of the alumnus whose message to the football coach is "I'm 100% with you - win or tie." Our basic goal as an owner is to behave with our managers as we like our owners to behave with us.
Hai doanh nghiệp bán lẻ chúng ta mua trong năm nay may mắn có được những nhà quản lý tuyệt vời, những người yêu thích cạnh tranh và đã cạnh tranh thành công trong nhiều thập kỷ. Giống như CEO của các đơn vị hoạt động khác của chúng ta, họ sẽ hoạt động một cách tự chủ: Chúng tôi muốn họ cảm thấy rằng những doanh nghiệp họ điều hành là của họ. Điều này có nghĩa là Charlie và tôi sẽ không phán xét lại các quyết định của họ. Chúng tôi tránh thái độ của vị cựu sinh viên có thông điệp gửi huấn luyện viên đội bóng bầu dục là "Tôi ủng hộ anh 100% – thắng hoặc hòa." Mục tiêu cơ bản của chúng tôi với tư cách chủ sở hữu là cư xử với các nhà quản lý của chúng ta theo cách mà chúng tôi muốn các chủ sở hữu của mình cư xử với chúng tôi.
As we add more operations, I'm sometimes asked how many people I can handle reporting to me. My answer to that is simple: If I have one person reporting to me and he is a lemon, that's one too many, and if I have managers like those we now have, the number can be almost unlimited. We are lucky to have Bill and Sheldon associated with us, and we hope that we can acquire other businesses that bring with them managers of similar caliber.
Khi chúng ta có thêm nhiều doanh nghiệp, đôi khi tôi được hỏi rằng tôi có thể quản lý bao nhiêu người báo cáo trực tiếp cho mình. Câu trả lời của tôi rất đơn giản: Nếu tôi có một người báo cáo cho tôi và người đó là đồ bỏ đi, thì như vậy đã là thừa một người, còn nếu tôi có những nhà quản lý như những người chúng ta đang có, con số đó có thể gần như không giới hạn. Chúng ta may mắn có Bill và Sheldon gắn bó với chúng ta, và chúng tôi hy vọng có thể mua lại những doanh nghiệp khác mang theo các nhà quản lý có tầm cỡ tương tự.
Right after yearend, we completed the purchase of 100% of GEICO, the seventh largest auto insurer in the United States, with about 3.7 million cars insured. I've had a 45-year association with GEICO, and though the story has been told before, it's worth a short recap here.
Ngay sau khi kết thúc năm, chúng ta đã hoàn tất việc mua 100% GEICO, công ty bảo hiểm ô tô lớn thứ bảy tại Hoa Kỳ, với khoảng 3,7 triệu xe được bảo hiểm. Tôi đã có mối gắn bó 45 năm với GEICO, và dù câu chuyện đã được kể trước đây, nó vẫn đáng được tóm lược ngắn gọn ở đây.
I attended Columbia University's business school in 1950-51, not because I cared about the degree it offered, but because I wanted to study under Ben Graham, then teaching there. The time I spent in Ben's classes was a personal high, and quickly induced me to learn all I could about my hero. I turned first to Who's Who in America, finding there, among other things, that Ben was Chairman of Government Employees Insurance Company, to me an unknown company in an unfamiliar industry.
Tôi học trường kinh doanh của Đại học Columbia trong niên khóa 1950-51, không phải vì tôi quan tâm đến tấm bằng mà trường cấp, mà vì tôi muốn học với Ben Graham, người khi đó đang giảng dạy ở đây. Thời gian tôi ngồi trong các lớp học của Ben là một đỉnh cao của cá nhân tôi, và nhanh chóng thôi thúc tôi tìm hiểu mọi điều có thể về người hùng của mình. Trước tiên tôi tìm đến cuốn Who's Who in America, và tìm thấy ở đó, cùng nhiều thông tin khác, rằng Ben là Chủ tịch Hội đồng quản trị của Government Employees Insurance Company, đối với tôi là một công ty xa lạ trong một ngành không quen thuộc.
A librarian next referred me to Best's Fire and Casualty insurance manual, where I learned that GEICO was based in Washington, DC. So on a Saturday in January, 1951, I took the train to Washington and headed for GEICO's downtown headquarters. To my dismay, the building was closed, but I pounded on the door until a custodian appeared. I asked this puzzled fellow if there was anyone in the office I could talk to, and he said he'd seen one man working on the sixth floor.
Tiếp đó, một thủ thư chỉ cho tôi cuốn sổ tay bảo hiểm hỏa hoạn và trách nhiệm của Best's (Best's Fire and Casualty insurance manual), nơi tôi biết được rằng GEICO đặt trụ sở tại Washington, DC. Vì vậy vào một ngày thứ Bảy tháng 1 năm 1951, tôi đã đi tàu đến Washington và tìm đến trụ sở của GEICO ở khu trung tâm. Tôi thất vọng vì tòa nhà đóng cửa, nhưng tôi đập cửa cho đến khi một người trông coi tòa nhà xuất hiện. Tôi hỏi người đàn ông đang ngơ ngác này rằng có ai trong văn phòng mà tôi có thể nói chuyện không, và ông ấy nói rằng ông đã thấy một người đang làm việc trên tầng sáu.
And thus I met Lorimer Davidson, Assistant to the President, who was later to become CEO. Though my only credentials were that I was a student of Graham's, "Davy" graciously spent four hours or so showering me with both kindness and instruction. No one has ever received a better half-day course in how the insurance industry functions nor in the factors that enable one company to excel over others. As Davy made clear, GEICO's method of selling - direct marketing - gave it an enormous cost advantage over competitors that sold through agents, a form of distribution so ingrained in the business of these insurers that it was impossible for them to give it up. After my session with Davy, I was more excited about GEICO than I have ever been about a stock.
Và đó là cách tôi gặp Lorimer Davidson, Trợ lý Tổng giám đốc, người sau này trở thành CEO. Dù tư cách duy nhất tôi có chỉ là một sinh viên của Graham, "Davy" đã ân cần dành khoảng bốn giờ đồng hồ để trao cho tôi cả sự tử tế lẫn những lời chỉ dạy. Chưa ai từng nhận được một khóa học nửa ngày tốt hơn về cách ngành bảo hiểm vận hành cũng như về các yếu tố giúp một công ty vượt trội so với các công ty khác. Như Davy đã làm rõ, phương thức bán hàng của GEICO – tiếp thị trực tiếp – đã mang lại cho công ty một lợi thế chi phí khổng lồ so với các đối thủ bán qua đại lý, một hình thức phân phối đã ăn sâu vào hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm này đến mức họ không thể từ bỏ nó. Sau buổi gặp với Davy, tôi hào hứng với GEICO hơn mức tôi từng hào hứng với bất kỳ cổ phiếu nào.
When I finished at Columbia some months later and returned to Omaha to sell securities, I naturally focused almost exclusively on GEICO. My first sales call - on my Aunt Alice, who always supported me 100% - was successful. But I was then a skinny, unpolished 20-year-old who looked about 17, and my pitch usually failed. Undaunted, I wrote a short report late in 1951 about GEICO for "The Security I Like Best" column in The Commercial and Financial Chronicle, a leading financial publication of the time. More important, I bought stock for my own account.
Khi tôi học xong ở Columbia vài tháng sau đó và trở về Omaha để bán chứng khoán, đương nhiên tôi tập trung gần như hoàn toàn vào GEICO. Cuộc chào bán đầu tiên của tôi – với cô Alice, người luôn ủng hộ tôi 100% – đã thành công. Nhưng khi đó tôi là một chàng trai 20 tuổi gầy gò, chưa được mài giũa, trông chỉ như khoảng 17, và lời chào hàng của tôi thường thất bại. Không nản lòng, cuối năm 1951 tôi viết một báo cáo ngắn về GEICO cho chuyên mục "Chứng khoán tôi thích nhất" ("The Security I Like Best") trên The Commercial and Financial Chronicle, một ấn phẩm tài chính hàng đầu thời đó. Quan trọng hơn, tôi đã mua cổ phiếu cho tài khoản của riêng mình.
You may think this odd, but I have kept copies of every tax return I filed, starting with the return for 1944. Checking back, I find that I purchased GEICO shares on four occasions during 1951, the last purchase being made on September 26. This pattern of persistence suggests to me that my tendency toward self-intoxication was developed early. I probably came back on that September day from unsuccessfully trying to sell some prospect and decided - despite my already having more than 50% of my net worth in GEICO - to load up further. In any event, I accumulated 350 shares of GEICO during the year, at a cost of $10,282. At yearend, this holding was worth $13,125, more than 65% of my net worth.
Các bạn có thể thấy điều này kỳ quặc, nhưng tôi đã giữ bản sao của mọi tờ khai thuế mà tôi từng nộp, bắt đầu từ tờ khai năm 1944. Kiểm tra lại, tôi thấy rằng tôi đã mua cổ phiếu GEICO bốn lần trong năm 1951, lần mua cuối cùng vào ngày 26 tháng 9. Kiểu kiên trì này gợi cho tôi thấy rằng thiên hướng tự say sưa với chính mình của tôi đã hình thành từ sớm. Có lẽ hôm đó, một ngày tháng Chín, tôi trở về sau khi chào bán không thành cho một khách hàng tiềm năng nào đó và quyết định – bất chấp việc đã có hơn 50% giá trị tài sản ròng của mình nằm trong GEICO – mua dồn thêm. Dù sao đi nữa, tôi đã tích lũy 350 cổ phiếu GEICO trong năm đó, với chi phí 10.282 USD. Vào cuối năm, khoản nắm giữ này trị giá 13.125 USD, hơn 65% giá trị tài sản ròng của tôi.
You can see why GEICO was my first business love. Furthermore, just to complete this stroll down memory lane, I should add that I earned most of the funds I used to buy GEICO shares by delivering The Washington Post, the chief product of a company that much later made it possible for Berkshire to turn $10 million into $500 million.
Các bạn có thể thấy vì sao GEICO là mối tình kinh doanh đầu tiên của tôi. Hơn nữa, để hoàn tất chuyến dạo bước về miền ký ức này, tôi cần nói thêm rằng phần lớn số tiền tôi dùng để mua cổ phiếu GEICO là do tôi kiếm được từ việc giao tờ The Washington Post, sản phẩm chủ lực của một công ty mà mãi về sau đã giúp Berkshire biến 10 triệu USD thành 500 triệu USD.
Alas, I sold my entire GEICO position in 1952 for $15,259, primarily to switch into Western Insurance Securities. This act of infidelity can partially be excused by the fact that Western was selling for slightly more than one times its current earnings, a p/e ratio that for some reason caught my eye. But in the next 20 years, the GEICO stock I sold grew in value to about $1.3 million, which taught me a lesson about the inadvisability of selling a stake in an identifiably-wonderful company.
Than ôi, tôi đã bán toàn bộ vị thế GEICO của mình vào năm 1952 với giá 15.259 USD, chủ yếu để chuyển sang Western Insurance Securities. Hành động không chung thủy này có thể được tha thứ phần nào vì Western khi đó đang được bán ở mức giá chỉ nhỉnh hơn một lần lợi nhuận hiện tại của công ty, một hệ số giá trên lợi nhuận (p/e ratio) mà vì lý do nào đó đã lọt vào mắt tôi. Nhưng trong 20 năm sau đó, số cổ phiếu GEICO tôi đã bán tăng giá trị lên khoảng 1,3 triệu USD, điều đã dạy tôi một bài học về sự thiếu khôn ngoan của việc bán phần vốn trong một công ty rõ ràng là tuyệt vời.
In the early 1970's, after Davy retired, the executives running GEICO made some serious errors in estimating their claims costs, a mistake that led the company to underprice its policies - and that almost caused it to go bankrupt. The company was saved only because Jack Byrne came in as CEO in 1976 and took drastic remedial measures.
Đầu thập niên 1970, sau khi Davy nghỉ hưu, các nhà điều hành GEICO đã mắc một số sai lầm nghiêm trọng trong việc ước tính chi phí bồi thường, một sai lầm khiến công ty định phí quá thấp cho các đơn bảo hiểm của mình – và suýt khiến công ty phá sản. Công ty được cứu chỉ vì Jack Byrne đến làm CEO năm 1976 và áp dụng các biện pháp khắc phục quyết liệt.
Because I believed both in Jack and in GEICO's fundamental competitive strength, Berkshire purchased a large interest in the company during the second half of 1976, and also made smaller purchases later. By yearend 1980, we had put $45.7 million into GEICO and owned 33.3% of its shares. During the next 15 years, we did not make further purchases. Our interest in the company, nonetheless, grew to about 50% because it was a big repurchaser of its own shares.
Vì tôi tin cả vào Jack lẫn vào sức mạnh cạnh tranh nền tảng của GEICO, Berkshire đã mua một phần sở hữu lớn trong công ty trong nửa cuối năm 1976, và sau đó cũng thực hiện các đợt mua nhỏ hơn. Đến cuối năm 1980, chúng ta đã đổ 45,7 triệu USD vào GEICO và sở hữu 33,3% cổ phần của công ty. Trong 15 năm tiếp theo, chúng ta không mua thêm. Tuy vậy, phần sở hữu của chúng ta trong công ty vẫn tăng lên khoảng 50% vì công ty đã mua lại một lượng lớn cổ phiếu của chính mình.
Then, in 1995, we agreed to pay $2.3 billion for the half of the company we didn't own. That is a steep price. But it gives us full ownership of a growing enterprise whose business remains exceptional for precisely the same reasons that prevailed in 1951. In addition, GEICO has two extraordinary managers: Tony Nicely, who runs the insurance side of the operation, and Lou Simpson, who runs investments.
Rồi, trong năm 1995, chúng ta đã đồng ý trả 2,3 tỷ USD cho một nửa công ty mà chúng ta chưa sở hữu. Đó là một cái giá đắt. Nhưng nó mang lại cho chúng ta quyền sở hữu toàn bộ một doanh nghiệp đang tăng trưởng mà hoạt động kinh doanh vẫn đặc biệt xuất sắc vì chính xác những lý do đã tồn tại vào năm 1951. Ngoài ra, GEICO có hai nhà quản lý phi thường: Tony Nicely, người điều hành mảng bảo hiểm, và Lou Simpson, người điều hành mảng đầu tư.
Tony, 52, has been with GEICO for 34 years. There's no one I would rather have managing GEICO's insurance operation. He has brains, energy, integrity and focus. If we're lucky, he'll stay another 34 years.
Tony, 52 tuổi, đã gắn bó với GEICO 34 năm. Không có ai mà tôi muốn giao quản lý hoạt động bảo hiểm của GEICO hơn ông ấy. Ông ấy có trí tuệ, năng lượng, sự chính trực và sự tập trung. Nếu chúng ta may mắn, ông ấy sẽ ở lại thêm 34 năm nữa.
Lou runs investments just as ably. Between 1980 and 1995, the equities under Lou's management returned an average of 22.8% annually vs. 15.7% for the S&P. Lou takes the same conservative, concentrated approach to investments that we do at Berkshire, and it is an enormous plus for us to have him on board. One point that goes beyond Lou's GEICO work: His presence on the scene assures us that Berkshire would have an extraordinary professional immediately available to handle its investments if something were to happen to Charlie and me.
Lou điều hành mảng đầu tư cũng tài tình không kém. Từ năm 1980 đến năm 1995, danh mục cổ phiếu do Lou quản lý đạt lợi suất trung bình 22,8% mỗi năm so với 15,7% của chỉ số S&P. Lou áp dụng cách tiếp cận đầu tư thận trọng, tập trung giống như chúng tôi làm tại Berkshire, và việc có ông ấy trong đội ngũ là một điểm cộng to lớn đối với chúng ta. Một điểm vượt ra ngoài công việc của Lou tại GEICO: Sự hiện diện của ông ấy bảo đảm với chúng tôi rằng Berkshire sẽ có ngay một chuyên gia phi thường để xử lý các khoản đầu tư của mình nếu có chuyện gì xảy ra với Charlie và tôi.
GEICO, of course, must continue both to attract good policyholders and keep them happy. It must also reserve and price properly. But the ultimate key to the company's success is its rock-bottom operating costs, which virtually no competitor can match. In 1995, moreover, Tony and his management team pushed underwriting and loss adjustment expenses down further to 23.6% of premiums, nearly one percentage point below 1994's ratio. In business, I look for economic castles protected by unbreachable "moats." Thanks to Tony and his management team, GEICO's moat widened in 1995.
Tất nhiên, GEICO phải tiếp tục vừa thu hút được những bên mua bảo hiểm tốt vừa giữ cho họ hài lòng. Công ty cũng phải trích lập dự phòng và định phí đúng mức. Nhưng chìa khóa tối thượng cho thành công của công ty là chi phí hoạt động cực thấp, điều mà hầu như không đối thủ nào có thể sánh được. Hơn nữa, trong năm 1995, Tony và đội ngũ quản lý của ông ấy đã đẩy chi phí nghiệp vụ bảo hiểm (underwriting) và chi phí giải quyết bồi thường (loss adjustment expenses) xuống thêm, còn 23,6% phí bảo hiểm, thấp hơn gần một điểm phần trăm so với tỷ lệ năm 1994. Trong kinh doanh, tôi tìm kiếm những tòa lâu đài kinh tế được những "con hào kinh tế (moats)" không thể vượt qua che chắn. Nhờ Tony và đội ngũ quản lý của ông ấy, con hào của GEICO đã được mở rộng trong năm 1995.
Finally, let me bring you up to date on Davy. He's now 93 and remains my friend and teacher. He continues to pay close attention to GEICO and has always been there when the company's CEOs - Jack Byrne, Bill Snyder and Tony - have needed him. Our acquisition of 100% of GEICO caused Davy to incur a large tax. Characteristically, he still warmly supported the transaction.
Cuối cùng, hãy để tôi cập nhật cho các bạn về Davy. Ông ấy nay đã 93 tuổi và vẫn là bạn và người thầy của tôi. Ông tiếp tục theo sát GEICO và luôn có mặt khi các CEO của công ty – Jack Byrne, Bill Snyder và Tony – cần đến ông. Việc chúng ta mua 100% GEICO khiến Davy phải chịu một khoản thuế lớn. Đúng với tính cách của mình, ông vẫn nhiệt liệt ủng hộ giao dịch này.
Davy has been one of my heroes for the 45 years I've known him, and he's never let me down. You should understand that Berkshire would not be where it is today if Davy had not been so generous with his time on a cold Saturday in 1951. I've often thanked him privately, but it is fitting that I use this report to thank him on behalf of Berkshire's shareholders.
Davy là một trong những người hùng của tôi suốt 45 năm tôi quen biết ông, và ông chưa bao giờ làm tôi thất vọng. Các bạn nên hiểu rằng Berkshire sẽ không có được vị thế như ngày nay nếu Davy đã không hào phóng dành thời gian của mình như vậy vào một ngày thứ Bảy lạnh giá năm 1951. Tôi đã nhiều lần cảm ơn ông một cách riêng tư, nhưng thật phù hợp khi tôi dùng báo cáo này để cảm ơn ông thay mặt các cổ đông của Berkshire.
Insurance Operations
Hoạt động bảo hiểm
In addition to acquiring GEICO, we enjoyed other favorable developments in insurance during 1995.
Ngoài việc mua lại GEICO, chúng ta còn có những diễn biến thuận lợi khác trong mảng bảo hiểm trong năm 1995.
As we've explained in past reports, what counts in our insurance business is, first, the amount of "float" we generate and, second, its cost to us. Float is money we hold but don't own. In an insurance operation, float arises because most policies require that premiums be prepaid and, more importantly, because it usually takes time for an insurer to hear about and resolve loss claims.
Như chúng tôi đã giải thích trong các báo cáo trước đây, điều quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm của chúng ta, thứ nhất, là lượng "nguồn vốn trôi nổi (float)" mà chúng ta tạo ra và, thứ hai, là chi phí của nguồn vốn đó đối với chúng ta. Nguồn vốn trôi nổi là tiền mà chúng ta nắm giữ nhưng không sở hữu. Trong hoạt động bảo hiểm, nguồn vốn trôi nổi phát sinh vì hầu hết các đơn bảo hiểm đòi hỏi phí bảo hiểm phải được trả trước và, quan trọng hơn, vì thông thường cần có thời gian để một công ty bảo hiểm nhận được thông báo và giải quyết các yêu cầu bồi thường tổn thất.
Typically, the premiums that an insurer takes in do not cover the losses and expenses it must pay. That leaves it running an "underwriting loss" - and that loss is the cost of float. An insurance business is profitable over time if its cost of float is less than the cost the company would otherwise incur to obtain funds. But the business has a negative value if the cost of its float is higher than market rates for money.
Thông thường, phí bảo hiểm mà một công ty bảo hiểm thu vào không đủ bù đắp các khoản tổn thất và chi phí mà công ty đó phải chi trả. Điều đó khiến công ty chịu một khoản "lỗ nghiệp vụ bảo hiểm" – và khoản lỗ đó chính là chi phí của nguồn vốn trôi nổi (cost of float). Một doanh nghiệp bảo hiểm có lãi theo thời gian nếu chi phí của nguồn vốn trôi nổi của doanh nghiệp đó thấp hơn chi phí mà công ty lẽ ra phải gánh để huy động vốn bằng cách khác. Nhưng doanh nghiệp đó có giá trị âm nếu chi phí của nguồn vốn trôi nổi cao hơn mức lãi suất thị trường của tiền vốn.
As the numbers in the following table show, Berkshire's insurance business has been a huge winner. For the table, we have calculated our float - which we generate in exceptional amounts relative to our premium volume - by adding loss reserves, loss adjustment reserves, funds held under reinsurance assumed and unearned premium reserves, and then subtracting agents' balances, prepaid acquisition costs, prepaid taxes and deferred charges applicable to assumed reinsurance. Our cost of float is determined by our underwriting loss or profit. In those years when we have had an underwriting profit, such as the last three, our cost of float has been negative, which means we have calculated our insurance earnings by adding underwriting profit to float income.
Như các con số trong bảng sau cho thấy, hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Berkshire đã là một người thắng lớn. Đối với bảng này, chúng tôi đã tính nguồn vốn trôi nổi của chúng ta – thứ mà chúng ta tạo ra với quy mô đặc biệt lớn so với doanh thu phí bảo hiểm – bằng cách cộng dự phòng bồi thường (loss reserves), dự phòng chi phí giải quyết bồi thường (loss adjustment reserves), tiền giữ lại theo hợp đồng nhận tái bảo hiểm (funds held under reinsurance assumed) và dự phòng phí chưa được hưởng (unearned premium reserves), rồi trừ đi số dư phải thu đại lý (agents' balances), chi phí khai thác trả trước (prepaid acquisition costs), thuế trả trước và chi phí chờ phân bổ liên quan đến tái bảo hiểm nhận (assumed reinsurance). Chi phí của nguồn vốn trôi nổi của chúng ta được xác định bởi khoản lỗ hoặc lãi nghiệp vụ bảo hiểm. Trong những năm chúng ta có lãi nghiệp vụ bảo hiểm, chẳng hạn ba năm gần nhất, chi phí của nguồn vốn trôi nổi của chúng ta là âm, nghĩa là chúng tôi đã tính lợi nhuận bảo hiểm của mình bằng cách cộng lãi nghiệp vụ bảo hiểm vào thu nhập từ nguồn vốn trôi nổi.
(in $ Millions) (1) Underwriting (2) Average Float Approximate Yearend Yield on Long-
Loss Cost of Funds Term Govt. Bonds
1967 Profit $17.3 <0 5.50%
1968 Profit 19.9 <0 5.90%
1969 Profit 23.4 <0 6.79%
1970 $0.37 32.4 1.14% 6.25%
1971 Profit 52.5 <0 5.81%
1972 Profit 69.5 <0 5.82%
1973 Profit 73.3 <0 7.27%
1974 7.36 79.1 9.30% 8.13%
1975 11.35 87.6 12.96% 8.03%
1976 Profit 102.6 <0 7.30%
1977 Profit 139.0 <0 7.97%
1978 Profit 190.4 <0 8.93%
1979 Profit 227.3 <0 10.08%
1980 Profit 237.0 <0 11.94%
1981 Profit 228.4 <0 13.61%
1982 21.56 220.6 9.77% 10.64%
1983 33.87 231.3 14.64% 11.84%
1984 48.06 253.2 18.98% 11.58%
1985 44.23 390.2 11.34% 9.34%
1986 55.84 797.5 7.00% 7.60%
1987 55.43 1,266.7 4.38% 8.95%
1988 11.08 1,497.7 0.74% 9.00%
1989 24.40 1,541.3 1.58% 7.97%
1990 26.65 1,637.3 1.63% 8.24%
1991 119.6 1,895.0 6.31% 7.40%
1992 108.9 2,290.4 4.76% 7.39%
1993 Profit 2,624.7 <0 6.35%
1994 Profit 3,056.6 <0 7.88%
1995 Profit 3,607.2 <0 5.95%
(triệu USD) (1) Lỗ nghiệp vụ (2) Nguồn vốn Chi phí vốn Lợi suất cuối năm của trái
bảo hiểm trôi nổi bình quân ước tính phiếu Chính phủ dài hạn
1967 Lãi $17,3 <0 5,50%
1968 Lãi 19,9 <0 5,90%
1969 Lãi 23,4 <0 6,79%
1970 $0,37 32,4 1,14% 6,25%
1971 Lãi 52,5 <0 5,81%
1972 Lãi 69,5 <0 5,82%
1973 Lãi 73,3 <0 7,27%
1974 7,36 79,1 9,30% 8,13%
1975 11,35 87,6 12,96% 8,03%
1976 Lãi 102,6 <0 7,30%
1977 Lãi 139,0 <0 7,97%
1978 Lãi 190,4 <0 8,93%
1979 Lãi 227,3 <0 10,08%
1980 Lãi 237,0 <0 11,94%
1981 Lãi 228,4 <0 13,61%
1982 21,56 220,6 9,77% 10,64%
1983 33,87 231,3 14,64% 11,84%
1984 48,06 253,2 18,98% 11,58%
1985 44,23 390,2 11,34% 9,34%
1986 55,84 797,5 7,00% 7,60%
1987 55,43 1.266,7 4,38% 8,95%
1988 11,08 1.497,7 0,74% 9,00%
1989 24,40 1.541,3 1,58% 7,97%
1990 26,65 1.637,3 1,63% 8,24%
1991 119,6 1.895,0 6,31% 7,40%
1992 108,9 2.290,4 4,76% 7,39%
1993 Lãi 2.624,7 <0 6,35%
1994 Lãi 3.056,6 <0 7,88%
1995 Lãi 3.607,2 <0 5,95%
Since 1967, when we entered the insurance business, our float has grown at an annual compounded rate of 20.7%. In more years than not, our cost of funds has been less than nothing. This access to "free" money has boosted Berkshire's performance in a major way.
Kể từ năm 1967, khi chúng ta tham gia ngành bảo hiểm, nguồn vốn trôi nổi của chúng ta đã tăng trưởng kép với tốc độ 20,7% mỗi năm. Trong đa số các năm, chi phí vốn của chúng ta còn thấp hơn không. Việc tiếp cận được nguồn tiền "miễn phí" này đã thúc đẩy kết quả hoạt động của Berkshire một cách to lớn.
Any company's level of profitability is determined by three items: (1) what its assets earn; (2) what its liabilities cost; and (3) its utilization of "leverage" - that is, the degree to which its assets are funded by liabilities rather than by equity. Over the years, we have done well on Point 1, having produced high returns on our assets. But we have also benefitted greatly - to a degree that is not generally well-understood - because our liabilities have cost us very little. An important reason for this low cost is that we have obtained float on very advantageous terms.
Mức khả năng sinh lời của bất kỳ công ty nào được quyết định bởi ba yếu tố: (1) tài sản của công ty kiếm được bao nhiêu; (2) nợ phải trả của công ty tốn bao nhiêu chi phí; và (3) mức độ công ty sử dụng "đòn bẩy (leverage)" – tức là mức độ mà tài sản của công ty được tài trợ bằng nợ phải trả thay vì bằng vốn chủ sở hữu. Qua nhiều năm, chúng ta đã làm tốt ở Điểm 1, khi tạo ra lợi nhuận cao trên tài sản. Nhưng chúng ta cũng đã được hưởng lợi rất lớn – ở mức độ thường không được hiểu rõ – vì nợ phải trả của chúng ta tốn rất ít chi phí. Một lý do quan trọng cho chi phí thấp này là chúng ta đã có được nguồn vốn trôi nổi với những điều kiện rất có lợi.
The same cannot be said by many other property and casualty insurers, who may generate plenty of float, but at a cost that exceeds what the funds are worth to them. In those circumstances, leverage becomes a disadvantage.
Nhiều công ty bảo hiểm tài sản và trách nhiệm (property and casualty) khác không thể nói như vậy; họ có thể tạo ra rất nhiều nguồn vốn trôi nổi, nhưng với chi phí vượt quá giá trị mà số vốn đó mang lại cho họ. Trong những trường hợp đó, đòn bẩy trở thành một bất lợi.
Since our float has cost us virtually nothing over the years, it has in effect served as equity. Of course, it differs from true equity in that it doesn't belong to us. Nevertheless, let's assume that instead of our having $3.4 billion of float at the end of 1994, we had replaced it with $3.4 billion of equity. Under this scenario, we would have owned no more assets than we did during 1995. We would, however, have had somewhat lower earnings because the cost of float was negative last year. That is, our float threw off profits. And, of course, to obtain the replacement equity, we would have needed to sell many new shares of Berkshire. The net result - more shares, equal assets and lower earnings - would have materially reduced the value of our stock. So you can understand why float wonderfully benefits a business - if it is obtained at a low cost.
Vì nguồn vốn trôi nổi của chúng ta hầu như không tốn chi phí gì qua nhiều năm, trên thực tế nguồn vốn này đã đóng vai trò như vốn chủ sở hữu. Tất nhiên, nguồn vốn này khác với vốn chủ sở hữu thực sự ở chỗ không thuộc về chúng ta. Tuy vậy, hãy giả định rằng thay vì có 3,4 tỷ USD nguồn vốn trôi nổi vào cuối năm 1994, chúng ta đã thay thế số đó bằng 3,4 tỷ USD vốn chủ sở hữu. Theo kịch bản này, chúng ta sẽ không sở hữu nhiều tài sản hơn so với thực tế trong năm 1995. Tuy nhiên, chúng ta sẽ có lợi nhuận thấp hơn đôi chút vì chi phí của nguồn vốn trôi nổi năm ngoái là âm. Nghĩa là, nguồn vốn trôi nổi của chúng ta đã sinh ra lợi nhuận. Và, tất nhiên, để có được phần vốn chủ sở hữu thay thế, chúng ta sẽ cần bán nhiều cổ phiếu mới của Berkshire. Kết quả ròng – nhiều cổ phiếu hơn, tài sản bằng nhau và lợi nhuận thấp hơn – sẽ làm giảm đáng kể giá trị cổ phiếu của chúng ta. Vì vậy, các bạn có thể hiểu tại sao nguồn vốn trôi nổi mang lại lợi ích tuyệt vời cho một doanh nghiệp – nếu có được nguồn vốn đó với chi phí thấp.
Our acquisition of GEICO will immediately increase our float by nearly $3 billion, with additional growth almost certain. We also expect GEICO to operate at a decent underwriting profit in most years, a fact that will increase the probability that our total float will cost us nothing. Of course, we paid a very substantial price for the GEICO float, whereas virtually all of the gains in float depicted in the table were developed internally.
Thương vụ mua lại GEICO sẽ ngay lập tức làm tăng nguồn vốn trôi nổi của chúng ta thêm gần 3 tỷ USD, và mức tăng thêm nữa là gần như chắc chắn. Chúng tôi cũng kỳ vọng GEICO sẽ hoạt động với mức lãi nghiệp vụ bảo hiểm kha khá trong hầu hết các năm, một thực tế sẽ làm tăng xác suất rằng tổng nguồn vốn trôi nổi của chúng ta sẽ không tốn của chúng ta đồng nào. Tất nhiên, chúng ta đã trả một cái giá rất lớn cho nguồn vốn trôi nổi của GEICO, trong khi hầu như toàn bộ mức tăng nguồn vốn trôi nổi thể hiện trong bảng đều được tạo ra từ nội bộ.
Our enthusiasm over 1995's insurance results must be tempered once again because we had our third straight year of good fortune in the super-cat business. In this operation, we sell policies that insurance and reinsurance companies buy to protect themselves from the effects of mega-catastrophes. Since truly major catastrophes occur infrequently, our super-cat business can be expected to show large profits in most years but occasionally to record a huge loss. In other words, the attractiveness of our super-cat business will take many years to measure. We know that the results of years like the past three will be at least partially offset by some truly terrible year in the future. We just hope that "partially" turns out to be the proper adverb.
Sự hào hứng của chúng tôi về kết quả bảo hiểm năm 1995 một lần nữa cần được kiềm chế, vì chúng ta đã có năm thứ ba liên tiếp gặp may trong mảng tái bảo hiểm thảm họa siêu lớn (super-cat). Trong hoạt động này, chúng ta bán các đơn bảo hiểm mà các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm mua để tự bảo vệ mình trước tác động của các đại thảm họa. Vì những thảm họa thực sự lớn hiếm khi xảy ra, mảng thảm họa siêu lớn của chúng ta có thể được kỳ vọng sẽ cho thấy lợi nhuận lớn trong hầu hết các năm nhưng thỉnh thoảng sẽ ghi nhận một khoản lỗ khổng lồ. Nói cách khác, sức hấp dẫn của mảng thảm họa siêu lớn của chúng ta sẽ cần nhiều năm mới đo lường được. Chúng tôi biết rằng kết quả của những năm như ba năm vừa qua sẽ bị bù trừ ít nhất một phần bởi một năm thực sự khủng khiếp nào đó trong tương lai. Chúng tôi chỉ hy vọng rằng "một phần" hóa ra là trạng từ thích hợp.
There were plenty of catastrophes last year, but no super-cats of the insured variety. The Southeast had a close call when Opal, sporting winds of 150 miles per hour, hovered off Florida. However, the storm abated before hitting land, and so a second Andrew was dodged. For insurers, the Kobe earthquake was another close call: The economic damage was huge - perhaps even a record - but only a tiny portion of it was insured. The insurance industry won't always be that lucky.
Năm ngoái có rất nhiều thảm họa, nhưng không có thảm họa siêu lớn nào thuộc loại được bảo hiểm. Vùng Đông Nam đã thoát hiểm trong gang tấc khi bão Opal, mang theo sức gió 150 dặm một giờ, lởn vởn ngoài khơi Florida. Tuy nhiên, cơn bão đã suy yếu trước khi đổ bộ vào đất liền, và vì vậy đã tránh được một cơn Andrew thứ hai. Đối với các công ty bảo hiểm, trận động đất Kobe là một lần thoát hiểm trong gang tấc khác: Thiệt hại kinh tế là rất lớn – có lẽ thậm chí là kỷ lục – nhưng chỉ một phần rất nhỏ trong đó được bảo hiểm. Ngành bảo hiểm sẽ không phải lúc nào cũng may mắn như vậy.
Ajit Jain is the guiding genius of our super-cat business and writes important non-cat business as well. In insurance, the term "catastrophe" is applied to an event, such as a hurricane or earthquake, that causes a great many insured losses. The other deals Ajit enters into usually cover only a single large loss. A simplified description of three transactions from last year will illustrate both what I mean and Ajit's versatility. We insured: (1) The life of Mike Tyson for a sum that is large initially and that, fight-by-fight, gradually declines to zero over the next few years; (2) Lloyd's against more than 225 of its "names" dying during the year; and (3) The launch, and a year of orbit, of two Chinese satellites. Happily, both satellites are orbiting, the Lloyd's folk avoided abnormal mortality, and if Mike Tyson looked any healthier, no one would get in the ring with him.
Ajit Jain là bộ óc thiên tài dẫn dắt mảng tái bảo hiểm thảm họa siêu lớn của chúng ta và cũng khai thác cả những nghiệp vụ ngoài thảm họa quan trọng. Trong bảo hiểm, thuật ngữ "thảm họa" được dùng cho một sự kiện, chẳng hạn một cơn bão hay một trận động đất, gây ra rất nhiều tổn thất được bảo hiểm. Các giao dịch khác mà Ajit tham gia thường chỉ bảo hiểm cho một tổn thất lớn đơn lẻ. Một mô tả giản lược về ba giao dịch từ năm ngoái sẽ minh họa cả điều tôi muốn nói lẫn tính đa năng của Ajit. Chúng ta đã bảo hiểm: (1) Tính mạng của Mike Tyson với số tiền ban đầu rất lớn và, qua từng trận đấu, giảm dần về không trong vài năm tới; (2) Cho Lloyd's trước rủi ro hơn 225 "names" (thành viên cá nhân góp vốn) của họ qua đời trong năm; và (3) Việc phóng, cùng một năm bay trên quỹ đạo, của hai vệ tinh Trung Quốc. Thật vui là cả hai vệ tinh đều đang bay trên quỹ đạo, những người của Lloyd's đã tránh được tỷ lệ tử vong bất thường, và nếu Mike Tyson trông khỏe mạnh hơn chút nào nữa, sẽ chẳng ai dám bước lên võ đài với anh ta.
Berkshire is sought out for many kinds of insurance, both super-cat and large single-risk, because: (1) our financial strength is unmatched, and insureds know we can and will pay our losses under the most adverse of circumstances; (2) we can supply a quote faster than anyone in the business; and (3) we will issue policies with limits larger than anyone else is prepared to write. Most of our competitors have extensive reinsurance treaties and lay off much of their business. While this helps them avoid shock losses, it also hurts their flexibility and reaction time. As you know, Berkshire moves quickly to seize investment and acquisition opportunities; in insurance we respond with the same exceptional speed. In another important point, large coverages don't frighten us but, on the contrary, intensify our interest. We have offered a policy under which we could have lost $1 billion; the largest coverage that a client accepted was $400 million.
Berkshire được tìm đến cho nhiều loại bảo hiểm, cả tái bảo hiểm thảm họa siêu lớn lẫn rủi ro đơn lẻ lớn, bởi vì: (1) sức mạnh tài chính của chúng ta là vô song, và bên được bảo hiểm biết rằng chúng ta có thể và sẽ chi trả các khoản tổn thất của mình trong những hoàn cảnh bất lợi nhất; (2) chúng ta có thể chào phí nhanh hơn bất kỳ ai trong ngành; và (3) chúng ta sẽ cấp các đơn bảo hiểm với hạn mức lớn hơn mức mà bất kỳ ai khác sẵn sàng nhận bảo hiểm. Hầu hết các đối thủ cạnh tranh của chúng ta có các hợp đồng tái bảo hiểm cố định (reinsurance treaties) rộng khắp và nhượng tái phần lớn nghiệp vụ của họ. Dù điều này giúp họ tránh được các tổn thất đột biến (shock losses), điều đó cũng làm tổn hại đến tính linh hoạt và thời gian phản ứng của họ. Như các bạn biết, Berkshire hành động nhanh chóng để nắm bắt các cơ hội đầu tư và mua lại doanh nghiệp; trong bảo hiểm, chúng ta phản hồi với cùng tốc độ vượt trội đó. Ở một điểm quan trọng khác, các mức bảo hiểm lớn không làm chúng tôi sợ hãi mà ngược lại, còn làm tăng thêm sự quan tâm của chúng tôi. Chúng ta đã chào một đơn bảo hiểm mà theo đó chúng ta có thể đã mất 1 tỷ USD; mức bảo hiểm lớn nhất mà một khách hàng chấp nhận là 400 triệu USD.
We will get hit from time to time with large losses. Charlie and I, however, are quite willing to accept relatively volatile results in exchange for better long-term earnings than we would otherwise have had. In other words, we prefer a lumpy 15% to a smooth 12%. Since most managers opt for smoothness, we are left with a competitive advantage that we try to maximize.
Thỉnh thoảng chúng ta sẽ bị giáng những khoản tổn thất lớn. Tuy nhiên, Charlie và tôi hoàn toàn sẵn lòng chấp nhận những kết quả biến động tương đối mạnh để đổi lấy lợi nhuận dài hạn tốt hơn mức mà lẽ ra chúng ta có được. Nói cách khác, chúng tôi thích mức 15% trồi sụt hơn mức 12% bằng phẳng. Vì hầu hết các nhà quản lý chọn sự bằng phẳng, chúng ta còn lại một lợi thế cạnh tranh mà chúng tôi cố gắng tận dụng tối đa.
We do, though, monitor our aggregate exposure in order to keep our "worst case" at a level that leaves us comfortable.
Tuy vậy, chúng tôi có giám sát tổng mức rủi ro gánh chịu của mình để giữ kịch bản "xấu nhất" ở mức khiến chúng tôi yên tâm.
Indeed, our worst case from a "once-in-a-century" super-cat is far less severe - relative to net worth - than that faced by many well-known primary companies writing great numbers of property policies. These insurers don't issue single huge-limit policies as we do, but their small policies, in aggregate, can create a risk of staggering size. The "big one" would blow right through the reinsurance covers of some of these insurers, exposing them to uncapped losses that could threaten their survival. In our case, losses would be large, but capped at levels we could easily handle.
Thực vậy, kịch bản xấu nhất của chúng ta từ một thảm họa siêu lớn "trăm năm có một" ít nghiêm trọng hơn nhiều – so với giá trị tài sản ròng – so với kịch bản mà nhiều công ty bảo hiểm gốc (primary companies) nổi tiếng đang khai thác rất nhiều đơn bảo hiểm tài sản phải đối mặt. Các công ty bảo hiểm này không cấp những đơn bảo hiểm hạn mức trách nhiệm khổng lồ đơn lẻ như chúng ta, nhưng các đơn bảo hiểm nhỏ của họ, khi cộng gộp lại, có thể tạo ra một rủi ro có quy mô đáng kinh ngạc. "Trận lớn" sẽ xuyên thủng các hợp đồng tái bảo hiểm bảo vệ của một số công ty bảo hiểm này, khiến họ phải gánh những khoản tổn thất không giới hạn có thể đe dọa sự tồn vong của họ. Trong trường hợp của chúng ta, tổn thất sẽ lớn, nhưng được giới hạn ở mức chúng ta có thể dễ dàng xử lý.
Prices are weakening in the super-cat field. That is understandable considering the influx of capital into the reinsurance business a few years ago and the natural desire of those holding the capital to employ it. No matter what others may do, we will not knowingly write business at inadequate rates. We unwittingly did this in the early 1970's and, after more than 20 years, regularly receive significant bills stemming from the mistakes of that era. My guess is that we will still be getting surprises from that business 20 years from now. A bad reinsurance contract is like hell: easy to enter and impossible to exit.
Phí bảo hiểm đang suy giảm trong lĩnh vực thảm họa siêu lớn. Điều đó là dễ hiểu khi xét đến dòng vốn đổ vào ngành tái bảo hiểm vài năm trước và mong muốn tự nhiên của những người nắm giữ số vốn đó là đem vốn ra sử dụng. Bất kể những người khác có thể làm gì, chúng ta sẽ không cố ý khai thác hợp đồng bảo hiểm (write business) với mức phí không thỏa đáng. Chúng ta đã vô tình làm điều này vào đầu thập niên 1970 và, sau hơn 20 năm, vẫn thường xuyên nhận được những hóa đơn đáng kể bắt nguồn từ các sai lầm của thời kỳ đó. Tôi đoán rằng 20 năm nữa chúng ta vẫn sẽ còn nhận được những bất ngờ từ mảng kinh doanh đó. Một hợp đồng tái bảo hiểm tồi giống như địa ngục: dễ vào và không thể ra.
I actively participated in those early reinsurance decisions, and Berkshire paid a heavy tuition for my education in the business. Unfortunately, reinsurance students can't attend school on scholarship. GEICO, incidentally, suffered a similar, disastrous experience in the early 1980's, when it plunged enthusiastically into the writing of reinsurance and large risks. GEICO's folly was brief, but it will be cleaning things up for at least another decade. The well-publicized problems at Lloyd's further illustrate the perils of reinsurance and also underscore how vital it is that the interests of the people who write insurance business be aligned - on the downside as well as the upside - with those of the people putting up the capital. When that kind of symmetry is missing, insurers almost invariably run into trouble, though its existence may remain hidden for some time.
Tôi đã tích cực tham gia vào những quyết định tái bảo hiểm ban đầu đó, và Berkshire đã trả một khoản học phí nặng nề cho việc học hỏi của tôi trong ngành này. Thật không may, sinh viên ngành tái bảo hiểm không thể đi học bằng học bổng. Nhân tiện, GEICO cũng đã trải qua một trải nghiệm thảm hại tương tự vào đầu thập niên 1980, khi công ty hăng hái lao vào việc khai thác tái bảo hiểm và các rủi ro lớn. Sự dại dột của GEICO chỉ diễn ra ngắn ngủi, nhưng công ty sẽ còn phải dọn dẹp hậu quả trong ít nhất một thập kỷ nữa. Những vấn đề được công luận biết rõ tại Lloyd's càng minh họa thêm các hiểm họa của tái bảo hiểm và cũng nhấn mạnh tầm quan trọng sống còn của việc lợi ích của những người khai thác nghiệp vụ bảo hiểm phải được gắn kết – cả khi đi xuống lẫn khi đi lên – với lợi ích của những người bỏ vốn. Khi thiếu sự đối xứng đó, các công ty bảo hiểm hầu như luôn gặp rắc rối, dù sự tồn tại của rắc rối đó có thể bị che giấu trong một thời gian.
A small, apocryphal story about an insurance CEO who was visited by an analyst tells a lot about this industry. To the analyst's questions about his business, the CEO had nothing but gloomy answers: Rates were ridiculously low; the reserves on his balance sheet weren't adequate for ordinary claims, much less those likely to arise from asbestos and environmental problems; most of his reinsurers had long since gone broke, leaving him holding the sack. But then the CEO brightened: "Still, things could be a lot worse," he said. "It could be my money." At Berkshire, it's our money.
Một câu chuyện nhỏ, có lẽ là hư cấu, về một CEO công ty bảo hiểm được một nhà phân tích đến thăm nói lên rất nhiều điều về ngành này. Trước những câu hỏi của nhà phân tích về hoạt động kinh doanh của mình, vị CEO chỉ có những câu trả lời u ám: Mức phí thấp đến mức nực cười; dự phòng trên bảng cân đối kế toán của ông không đủ cho các yêu cầu bồi thường thông thường, chưa nói đến những yêu cầu có khả năng phát sinh từ các vấn đề amiăng và môi trường; hầu hết các nhà tái bảo hiểm của ông đã phá sản từ lâu, bỏ lại ông ôm trọn gánh nặng. Nhưng rồi vị CEO tươi tỉnh hẳn lên: "Dù vậy, mọi chuyện có thể còn tệ hơn nhiều," ông nói. "Đó đã có thể là tiền của tôi." Tại Berkshire, đó là tiền của chúng ta.
Berkshire's other insurance operations, though relatively small, performed magnificently in 1995. National Indemnity's traditional business had a combined ratio of 84.2 and developed, as usual, a large amount of float compared to premium volume. Over the last three years, this segment of our business, run by Don Wurster, has had an average combined ratio of 85.6. Our homestate operation, managed by Rod Eldred, grew at a good rate in 1995 and achieved a combined ratio of 81.4. Its three-year combined ratio is an amazing 82.4. Berkshire's California workers' compensation business, run by Brad Kinstler, faced fierce price-cutting in 1995 and lost a great many renewals when we refused to accept inadequate rates. Though this operation's volume dropped materially, it produced an excellent underwriting profit. Finally, John Kizer, at Central States Indemnity, continues to do an extraordinary job. His premium volume was up 23% in 1995, and underwriting profit grew by 59%. Ajit, Don, Rod, Brad and John are all under 45, an embarrassing fact demolishing my theory that managers only hit their stride after they reach 70.
Các hoạt động bảo hiểm khác của Berkshire, dù tương đối nhỏ, đã đạt kết quả tuyệt vời trong năm 1995. Nghiệp vụ truyền thống của National Indemnity có tỷ lệ kết hợp (combined ratio) là 84,2 và, như thường lệ, đã tạo ra một lượng lớn nguồn vốn trôi nổi so với doanh thu phí bảo hiểm. Trong ba năm qua, bộ phận này trong hoạt động kinh doanh của chúng ta, do Don Wurster điều hành, có tỷ lệ kết hợp bình quân là 85,6. Mảng bảo hiểm "nội bang" của chúng ta, do Rod Eldred quản lý, đã tăng trưởng với tốc độ tốt trong năm 1995 và đạt tỷ lệ kết hợp 81,4. Tỷ lệ kết hợp ba năm của mảng này là 82,4 đáng kinh ngạc. Mảng bảo hiểm bồi thường cho người lao động (workers' compensation) tại California của Berkshire, do Brad Kinstler điều hành, đã đối mặt với tình trạng cắt giảm phí khốc liệt trong năm 1995 và mất rất nhiều hợp đồng tái tục khi chúng ta từ chối chấp nhận mức phí không thỏa đáng. Dù doanh thu phí của mảng này giảm đáng kể, mảng này vẫn tạo ra mức lãi nghiệp vụ bảo hiểm xuất sắc. Cuối cùng, John Kizer, tại Central States Indemnity, tiếp tục làm một công việc phi thường. Doanh thu phí bảo hiểm của ông tăng 23% trong năm 1995, và lãi nghiệp vụ bảo hiểm tăng 59%. Ajit, Don, Rod, Brad và John đều dưới 45 tuổi, một thực tế đáng xấu hổ đánh đổ lý thuyết của tôi rằng các nhà quản lý chỉ đạt phong độ đỉnh cao sau khi họ bước sang tuổi 70.
To sum up, we entered 1995 with an exceptional insurance operation of moderate size. By adding GEICO, we entered 1996 with a business still better in quality, much improved in its growth prospects, and doubled in size. More than ever, insurance is our core strength.
Tóm lại, chúng ta bước vào năm 1995 với một hoạt động bảo hiểm xuất sắc có quy mô vừa phải. Với việc bổ sung GEICO, chúng ta bước vào năm 1996 với một hoạt động kinh doanh có chất lượng còn tốt hơn, triển vọng tăng trưởng được cải thiện nhiều, và quy mô tăng gấp đôi. Hơn bao giờ hết, bảo hiểm là thế mạnh cốt lõi của chúng ta.
Sources of Reported Earnings
Các nguồn lợi nhuận báo cáo
The table below shows the main sources of Berkshire's reported earnings. In this presentation, purchase-premium charges are not assigned to the specific businesses to which they apply, but are instead aggregated and shown separately. This procedure lets you view the earnings of our businesses as they would have been reported had we not purchased them. This form of presentation seems to us to be more useful to investors and managers than one utilizing GAAP, which requires purchase-premiums to be charged off, business-by-business. The total earnings we show in the table are, of course, identical to the GAAP total in our audited financial statements.
Bảng dưới đây trình bày các nguồn chính tạo nên lợi nhuận báo cáo của Berkshire. Trong cách trình bày này, chi phí phân bổ phần trội giá mua không được gán cho các doanh nghiệp cụ thể mà chúng liên quan, mà thay vào đó được tổng hợp và trình bày riêng. Cách làm này cho phép các bạn xem lợi nhuận của các doanh nghiệp của chúng ta như lợi nhuận lẽ ra đã được báo cáo nếu chúng ta không mua lại các doanh nghiệp đó. Đối với chúng tôi, hình thức trình bày này có vẻ hữu ích cho nhà đầu tư và nhà quản lý hơn so với cách trình bày theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP), vốn đòi hỏi phần trội giá mua (purchase-premiums) phải được phân bổ hết theo từng doanh nghiệp. Tổng lợi nhuận chúng tôi trình bày trong bảng, tất nhiên, giống hệt tổng lợi nhuận theo GAAP trong báo cáo tài chính đã kiểm toán của chúng ta.
Operating Earnings Pre-Tax Earnings Berkshire Share
(In Millions) 1995 1994 1995 1994
Insurance Group:
Underwriting $20.5 $129.9 $11.3 $80.9
Net investment income 501.6 419.4 417.7 350.5
Buffalo News 46.8 54.2 27.3 31.7
Fechheimer 16.9 14.3 8.8 7.1
Finance Business 20.8 22.1 12.6 14.6
Home Furnishings 29.7 (1) 17.4 16.7 (1) 8.7
Jewelry 33.9 (2) --- (3) 19.1 (2) --- (3)
Kirby 50.2 42.3 32.1 27.7
Scott Fetzer Manufacturing Group 34.1 39.5 21.2 24.9
See’s Candies 50.2 47.5 29.8 28.2
Shoe Group 58.4 85.5 37.5 55.8
World Book 8.8 24.7 7.0 17.3
Purchase-Price Premium Changes (27.0) (22.6) (23.4) (19.4)
Interest Expense (4) (56.0) (60.1) (34.9) (37.3)
Shareholder-Designated Contributions (11.6) (10.4) (7.0) (6.7)
Other 37.4 35.7 24.4 22.3
Operating Earnings 814.7 839.4 600.2 606.2
Sales of Securities 194.1 91.3 125.0 61.1
Decline in Value of USAir Preferred Stock --- (268.5) --- (172.6)
Total Earnings- All entities $1,008.8 $662.2 $725.2 $494.8
Lợi nhuận hoạt động Lợi nhuận trước thuế Phần của Berkshire
(triệu USD) 1995 1994 1995 1994
Khối Bảo hiểm:
Nghiệp vụ bảo hiểm $20,5 $129,9 $11,3 $80,9
Thu nhập đầu tư ròng 501,6 419,4 417,7 350,5
Buffalo News 46,8 54,2 27,3 31,7
Fechheimer 16,9 14,3 8,8 7,1
Mảng tài chính 20,8 22,1 12,6 14,6
Đồ nội thất gia đình 29,7 (1) 17,4 16,7 (1) 8,7
Trang sức 33,9 (2) --- (3) 19,1 (2) --- (3)
Kirby 50,2 42,3 32,1 27,7
Scott Fetzer Manufacturing Group 34,1 39,5 21,2 24,9
See’s Candies 50,2 47,5 29,8 28,2
Mảng giày 58,4 85,5 37,5 55,8
World Book 8,8 24,7 7,0 17,3
Chi phí phần trội giá mua (27,0) (22,6) (23,4) (19,4)
Chi phí lãi vay (4) (56,0) (60,1) (34,9) (37,3)
Đóng góp từ thiện do cổ đông chỉ định (11,6) (10,4) (7,0) (6,7)
Khác 37,4 35,7 24,4 22,3
Lợi nhuận hoạt động 814,7 839,4 600,2 606,2
Bán chứng khoán 194,1 91,3 125,0 61,1
Giảm giá trị cổ phiếu ưu đãi USAir --- (268,5) --- (172,6)
Tổng lợi nhuận – Toàn bộ các đơn vị $1.008,8 $662,2 $725,2 $494,8
(1) Includes R.C. Willey from June 29, 1995.
(1) Bao gồm R.C. Willey từ ngày 29 tháng 6 năm 1995.
(2) Includes Helzberg's from April 30, 1995.
(2) Bao gồm Helzberg's từ ngày 30 tháng 4 năm 1995.
(3) Jewelry earnings were included in "Other" in 1994.
(3) Lợi nhuận mảng trang sức được tính vào mục "Khác" trong năm 1994.
(4) Excludes interest expense of Finance Businesses.
(4) Không bao gồm chi phí lãi vay của Mảng tài chính.
A large amount of information about these businesses is given on pages 41-52, where you will also find our segment earnings reported on a GAAP basis. In addition, on pages 57-63, we have rearranged Berkshire's financial data into four segments on a non-GAAP basis, a presentation that corresponds to the way Charlie and I think about the company. Our intent is to supply you with the financial information that we would wish you to give us if our positions were reversed.
Rất nhiều thông tin về các doanh nghiệp này được trình bày ở các trang 41-52, nơi các bạn cũng sẽ thấy lợi nhuận theo bộ phận (segment earnings) của chúng ta được báo cáo trên cơ sở GAAP. Ngoài ra, ở các trang 57-63, chúng tôi đã sắp xếp lại dữ liệu tài chính của Berkshire thành bốn bộ phận trên cơ sở không theo GAAP, một cách trình bày tương ứng với cách Charlie và tôi suy nghĩ về công ty. Mục đích của chúng tôi là cung cấp cho các bạn những thông tin tài chính mà chúng tôi sẽ mong các bạn cung cấp cho chúng tôi nếu vị trí của chúng ta bị đảo ngược.
At Berkshire, we believe in Charlie's dictum - "Just tell me the bad news; the good news will take care of itself" - and that is the behavior we expect of our managers when they are reporting to us. Consequently, I also owe you - Berkshire's owners - a report on three operations that, though they continued to earn decent (or better) returns on invested capital, experienced a decline in earnings last year. Each encountered a different type of problem.
Tại Berkshire, chúng tôi tin vào châm ngôn của Charlie – "Cứ nói tôi nghe tin xấu; tin tốt tự nó sẽ lo" – và đó là cách hành xử mà chúng tôi kỳ vọng ở các nhà quản lý của mình khi họ báo cáo với chúng tôi. Vì vậy, tôi cũng nợ các bạn – những người chủ sở hữu của Berkshire – một bản báo cáo về ba hoạt động mà, dù vẫn tiếp tục đạt tỷ suất lợi nhuận khá (hoặc tốt hơn) trên vốn đầu tư, đã trải qua sự sụt giảm lợi nhuận trong năm ngoái. Mỗi hoạt động gặp phải một loại vấn đề khác nhau.
Our shoe business operated in an industry that suffered depressed earnings throughout last year, and many of our competitors made only marginal profits or worse. That means we at least maintained, and in some instances widened, our competitive superiority. So I have no doubt that our shoe operations will climb back to top-grade earnings in the future. In other words, though the turn has not yet occurred, we believe you should view last year's figures as reflecting a cyclical problem, not a secular one.
Mảng giày của chúng ta hoạt động trong một ngành có lợi nhuận suy giảm suốt năm ngoái, và nhiều đối thủ cạnh tranh của chúng ta chỉ có lãi ít ỏi hoặc tệ hơn. Điều đó có nghĩa là ít nhất chúng ta đã duy trì, và trong một số trường hợp còn nới rộng, ưu thế cạnh tranh của mình. Vì vậy tôi không nghi ngờ gì rằng các hoạt động giày của chúng ta sẽ lấy lại mức lợi nhuận hàng đầu trong tương lai. Nói cách khác, dù bước ngoặt vẫn chưa xảy ra, chúng tôi tin rằng các bạn nên xem các số liệu năm ngoái là phản ánh một vấn đề mang tính chu kỳ, chứ không phải một vấn đề mang tính dài hạn.
The Buffalo News, though still doing very well in comparison to other newspapers, is another story. In this case, industry trends are not good. In the 1991 Annual Report, I explained that newspapers had lost a notch in their economic attractiveness from the days when they appeared to have a bullet-proof franchise. Today, the industry retains its excellent economics, but has lost still another notch. Over time, we expect the competitive strength of newspapers to gradually erode, though the industry should nevertheless remain a fine business for many years to come.
Buffalo News, dù vẫn hoạt động rất tốt so với các tờ báo khác, lại là một câu chuyện khác. Trong trường hợp này, xu hướng của ngành không tốt. Trong Báo cáo thường niên năm 1991, tôi đã giải thích rằng các tờ báo đã tụt một bậc về sức hấp dẫn kinh tế so với thời mà họ dường như có một đặc quyền kinh tế (franchise) chống đạn. Ngày nay, ngành này vẫn giữ được các đặc tính kinh tế xuất sắc, nhưng đã tụt thêm một bậc nữa. Theo thời gian, chúng tôi dự kiến sức mạnh cạnh tranh của các tờ báo sẽ dần bị bào mòn, dù vậy ngành này vẫn được kỳ vọng sẽ tiếp tục là một ngành kinh doanh tốt trong nhiều năm tới.
Berkshire's most difficult problem is World Book, which operates in an industry beset by increasingly tough competition from CD-ROM and on-line offerings. True, we are still profitable, a claim that perhaps no other print encyclopedia can make. But our sales and earnings trends have gone in the wrong direction. At the end of 1995, World Book made major changes in the way it distributes its product, stepped up its efforts with electronic products and sharply reduced its overhead costs. It will take time for us to evaluate the effects of these initiatives, but we are confident they will significantly improve our viability.
Vấn đề khó khăn nhất của Berkshire là World Book, công ty hoạt động trong một ngành bị bủa vây bởi sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các sản phẩm CD-ROM và trực tuyến. Đúng là chúng ta vẫn có lãi, điều mà có lẽ không bộ bách khoa toàn thư in nào khác có thể khẳng định. Nhưng xu hướng doanh số và lợi nhuận của chúng ta đã đi sai hướng. Vào cuối năm 1995, World Book đã thực hiện những thay đổi lớn trong cách phân phối sản phẩm, đẩy mạnh nỗ lực với các sản phẩm điện tử và cắt giảm mạnh chi phí quản lý chung. Chúng ta sẽ cần thời gian để đánh giá tác động của các sáng kiến này, nhưng chúng tôi tin tưởng rằng các sáng kiến đó sẽ cải thiện đáng kể khả năng tồn tại của chúng ta.
All of our operations, including those whose earnings fell last year, benefit from exceptionally talented and dedicated managers. Were we to have the choice of any other executives now working in their industries, there is not one of our managers we would replace.
Tất cả các hoạt động của chúng ta, kể cả những hoạt động có lợi nhuận giảm trong năm ngoái, đều được hưởng lợi từ những nhà quản lý đặc biệt tài năng và tận tụy. Nếu được quyền chọn bất kỳ nhà điều hành nào khác hiện đang làm việc trong ngành của họ, không có một nhà quản lý nào của chúng ta mà chúng tôi muốn thay thế.
Many of our managers don't have to work for a living, but simply go out and perform every day for the same reason that wealthy golfers stay on the tour: They love both doing what they do and doing it well. To describe them as working may be a misnomer - they simply prefer spending much of their time on a productive activity at which they excel to spending it on leisure activities. Our job is to provide an environment that will keep them feeling this way, and so far we seem to have succeeded: Thinking back over the 1965-95 period, I can't recall that a single key manager has left Berkshire to join another employer.
Nhiều nhà quản lý của chúng ta không cần phải làm việc để kiếm sống, mà chỉ đơn giản là ra sân và thể hiện mỗi ngày vì cùng lý do mà những tay golf giàu có vẫn tiếp tục thi đấu trên các giải chuyên nghiệp: Họ yêu thích cả việc làm điều họ làm lẫn việc làm điều đó thật tốt. Mô tả họ là đang làm việc có lẽ là một cách gọi không đúng – họ chỉ đơn giản là thích dành phần lớn thời gian của mình cho một hoạt động hữu ích mà họ xuất sắc hơn là dành thời gian đó cho các hoạt động giải trí. Công việc của chúng tôi là tạo ra một môi trường giúp họ tiếp tục cảm thấy như vậy, và cho đến nay chúng tôi dường như đã thành công: Nhìn lại giai đoạn 1965-95, tôi không nhớ có một nhà quản lý chủ chốt nào đã rời Berkshire để về làm cho một chủ khác.
Common Stock Investments
Các khoản đầu tư cổ phiếu phổ thông (Common Stock)
Below we present our common stock investments. Those with a market value of more than $600 million are itemized.
Dưới đây chúng tôi trình bày các khoản đầu tư cổ phiếu phổ thông của chúng ta. Những khoản có giá trị thị trường trên 600 triệu USD được liệt kê chi tiết.
Shares Company Cost Market
(dollars in millions)
49,456,900 American Express Company $1,392.7 $2,046.3
20,000,000 Capital Cities/ABC, Inc. 345.0 2,467.5
100,000,000 The Coca-Cola Company 1,298.8 7,425.0
12,502,500 Federal Home Loan Mortgage Corp. 260.1 1,044.0
(“Freddie Mac”)
34,250,000 GEICO Corporation. 45.7 2,393.2
48,000,000 The Gillette Company 600 2,502.0
6,791,218 Wells Fargo & Company 423.7 1,466.9
Others 1,379.0 2,655.4
Total Common Stocks $5,745.1 $22,000.3
Số cổ phiếu Công ty Giá gốc Giá thị trường
(triệu USD)
49.456.900 American Express Company $1.392,7 $2.046,3
20.000.000 Capital Cities/ABC, Inc. 345,0 2.467,5
100.000.000 The Coca-Cola Company 1.298,8 7.425,0
12.502.500 Federal Home Loan Mortgage Corp. 260,1 1.044,0
(“Freddie Mac”)
34.250.000 GEICO Corporation. 45,7 2.393,2
48.000.000 The Gillette Company 600 2.502,0
6.791.218 Wells Fargo & Company 423,7 1.466,9
Các cổ phiếu khác 1.379,0 2.655,4
Tổng cổ phiếu phổ thông $5.745,1 $22.000,3
We continue in our Rip Van Winkle mode: Five of our six top positions at yearend 1994 were left untouched during 1995. The sixth was American Express, in which we increased our ownership to about 10%.
Chúng ta tiếp tục ở chế độ Rip Van Winkle: Năm trong sáu vị thế lớn nhất của chúng ta vào cuối năm 1994 không hề được động đến trong năm 1995. Vị thế thứ sáu là American Express, nơi chúng ta đã tăng tỷ lệ sở hữu lên khoảng 10%.
In early 1996, two major events affected our holdings: First, our purchase of the GEICO stock we did not already own caused that company to be converted into a wholly-owned subsidiary. Second, we exchanged our Cap Cities shares for a combination of cash and Disney stock.
Đầu năm 1996, hai sự kiện lớn đã tác động đến danh mục nắm giữ của chúng ta: Thứ nhất, việc chúng ta mua số cổ phiếu GEICO mà chúng ta chưa sở hữu đã khiến công ty đó được chuyển thành một công ty con sở hữu toàn bộ. Thứ hai, chúng ta đã hoán đổi cổ phiếu Cap Cities của mình lấy một tổ hợp gồm tiền mặt và cổ phiếu Disney.
In the Disney merger, Cap Cities shareholders had a choice of actions. If they chose, they could exchange each of their Cap Cities shares for one share of Disney stock plus $65. Or they could ask for - though not necessarily get - all cash or all stock, with their ultimate allotment of each depending on the choices made by other shareholders and certain decisions made by Disney. For our 20 million shares, we sought stock, but do not know, as this report goes to press, how much we were allocated. We are certain, however, to receive something over 20 million Disney shares. We have also recently bought Disney stock in the market.
Trong thương vụ sáp nhập Disney, các cổ đông Cap Cities có quyền lựa chọn cách hành động. Nếu muốn, họ có thể đổi mỗi cổ phiếu Cap Cities của mình lấy một cổ phiếu Disney cộng 65 USD. Hoặc họ có thể yêu cầu – dù không nhất thiết được đáp ứng – nhận toàn bộ bằng tiền mặt hoặc toàn bộ bằng cổ phiếu, với phần phân bổ cuối cùng của mỗi loại tùy thuộc vào các lựa chọn của các cổ đông khác và một số quyết định nhất định của Disney. Với 20 triệu cổ phiếu của mình, chúng ta đã yêu cầu nhận cổ phiếu, nhưng vào lúc báo cáo này được đưa đi in, chúng tôi vẫn chưa biết chúng ta được phân bổ bao nhiêu. Tuy nhiên, chúng tôi chắc chắn sẽ nhận được hơn 20 triệu cổ phiếu Disney một chút. Gần đây chúng ta cũng đã mua cổ phiếu Disney trên thị trường.
One more bit of history: I first became interested in Disney in 1966, when its market valuation was less than $90 million, even though the company had earned around $21 million pre-tax in 1965 and was sitting with more cash than debt. At Disneyland, the $17 million Pirates of the Caribbean ride would soon open. Imagine my excitement - a company selling at only five times rides!
Thêm một chút lịch sử: Lần đầu tiên tôi quan tâm đến Disney là vào năm 1966, khi giá trị thị trường của công ty chưa đến 90 triệu USD, dù công ty đã kiếm được khoảng 21 triệu USD lợi nhuận trước thuế trong năm 1965 và đang nắm giữ lượng tiền mặt nhiều hơn nợ. Tại Disneyland, trò chơi Pirates of the Caribbean trị giá 17 triệu USD sắp khai trương. Hãy tưởng tượng sự phấn khích của tôi – một công ty được bán với giá chỉ bằng năm lần giá trò chơi!
Duly impressed, Buffett Partnership Ltd. bought a significant amount of Disney stock at a split-adjusted price of 31› per share. That decision may appear brilliant, given that the stock now sells for $66. But your Chairman was up to the task of nullifying it: In 1967 I sold out at 48› per share.
Ấn tượng đúng mức, Buffett Partnership Ltd. đã mua một lượng đáng kể cổ phiếu Disney với giá đã điều chỉnh theo chia tách cổ phiếu là 31 xu mỗi cổ phiếu. Quyết định đó có thể trông thật xuất sắc, khi cổ phiếu hiện được giao dịch ở mức 66 USD. Nhưng Chủ tịch của các bạn đã đủ sức làm cho quyết định đó trở nên vô nghĩa: Năm 1967 tôi đã bán sạch ở mức 48 xu mỗi cổ phiếu.
Oh well - we're happy to be once again a large owner of a business with both unique assets and outstanding management.
Thôi thì – chúng ta vui mừng được một lần nữa trở thành chủ sở hữu lớn của một doanh nghiệp có cả tài sản độc nhất lẫn đội ngũ quản lý xuất sắc.
Convertible Preferred Stocks
Các cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi (Convertible Preferred Stocks)
As many of you will remember, Berkshire made five private purchases of convertible preferred stocks during the 1987-91 period and the time seems right to discuss their status. Here are the particulars:
Như nhiều bạn còn nhớ, Berkshire đã thực hiện năm thương vụ mua riêng lẻ cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi trong giai đoạn 1987-91, và có vẻ đã đến lúc thích hợp để bàn về tình trạng của chúng. Dưới đây là các thông tin chi tiết:
Company Dividend Year of Cost Market Value
Rate Purchase
Champion International Corp. 9 ¼% 1989 $300 $388 (1)
First Empire State Corp. 9% 1991 40 110
The Gillette Company 8 ¾% 1989 600 2,502 (2)
Salomon Inc. 9% 1987 700 728 (3)
USAir Group, Inc. 9 ¼% 1989 358 215
Công ty Tỷ lệ Năm Giá gốc Giá trị thị trường
cổ tức mua
Champion International Corp. 9 ¼% 1989 $300 $388 (1)
First Empire State Corp. 9% 1991 40 110
The Gillette Company 8 ¾% 1989 600 2.502 (2)
Salomon Inc. 9% 1987 700 728 (3)
USAir Group, Inc. 9 ¼% 1989 358 215
(1) Proceeds from sale of common we received through conversion in 1995.
(1) Số tiền thu được từ việc bán cổ phiếu phổ thông mà chúng ta nhận được thông qua chuyển đổi năm 1995.
(2) 12/31/95 value of common we received through conversion in 1991.
(2) Giá trị tại ngày 31/12/95 của cổ phiếu phổ thông mà chúng ta nhận được thông qua chuyển đổi năm 1991.
(3) Includes $140 we received in 1995 from partial redemption.
(3) Bao gồm 140 USD mà chúng ta nhận được năm 1995 từ việc hoàn lại một phần (partial redemption).
In each case we had the option of sticking with these preferreds as fixed-income securities or converting them into common stock. Initially, their value to us came primarily from their fixed-income characteristics. The option we had to convert was a kicker.
Trong mỗi trường hợp, chúng ta đều có quyền lựa chọn tiếp tục giữ các cổ phiếu ưu đãi này như những chứng khoán thu nhập cố định (fixed-income securities) hoặc chuyển đổi chúng thành cổ phiếu phổ thông. Ban đầu, giá trị của chúng đối với chúng ta chủ yếu đến từ các đặc tính thu nhập cố định. Quyền chuyển đổi mà chúng ta có là một phần thưởng thêm (kicker).
Our $300 million private purchase of American Express "Percs" - described in the 1991 Annual Report - is not included in the table because that security was a modified form of common stock whose fixed-income characteristics contributed only a minor portion of its initial value. Three years after we bought them, the Percs automatically were converted to common stock. In contrast, the five securities in the table were set to become common stocks only if we wished them to - a crucial difference.
Thương vụ mua riêng lẻ trị giá 300 triệu USD của chúng ta đối với cổ phiếu ưu đãi Percs (Percs) của American Express – đã được mô tả trong Báo cáo thường niên năm 1991 – không được đưa vào bảng vì chứng khoán đó là một dạng biến thể của cổ phiếu phổ thông, mà các đặc tính thu nhập cố định chỉ đóng góp một phần nhỏ vào giá trị ban đầu của nó. Ba năm sau khi chúng ta mua, các cổ phiếu Percs đã tự động được chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông. Ngược lại, năm chứng khoán trong bảng được thiết kế để chỉ trở thành cổ phiếu phổ thông nếu chúng ta muốn như vậy – một khác biệt cốt yếu.
When we purchased our convertible securities, I told you that we expected to earn after-tax returns from them that "moderately" exceeded what we could earn from the medium-term fixed-income securities they replaced. We beat this expectation - but only because of the performance of a single issue. I also told you that these securities, as a group, would "not produce the returns we can achieve when we find a business with wonderful economic prospects." Unfortunately, that prediction was fulfilled. Finally, I said that "under almost any conditions, we expect these preferreds to return us our money plus dividends." That's one I would like to have back. Winston Churchill once said that "eating my words has never given me indigestion." My assertion, however, that it was almost impossible for us to lose money on our preferreds has caused me some well-deserved heartburn.
Khi chúng ta mua các chứng khoán chuyển đổi của mình, tôi đã nói với các bạn rằng chúng tôi kỳ vọng kiếm được từ chúng tỷ suất sinh lời sau thuế vượt "ở mức vừa phải" so với mức chúng ta có thể kiếm được từ các chứng khoán thu nhập cố định trung hạn mà chúng thay thế. Chúng ta đã vượt kỳ vọng này – nhưng chỉ nhờ kết quả của một chứng khoán duy nhất. Tôi cũng đã nói với các bạn rằng, xét chung cả nhóm, các chứng khoán này sẽ "không tạo ra mức sinh lời mà chúng ta có thể đạt được khi tìm thấy một doanh nghiệp có triển vọng kinh tế tuyệt vời." Thật không may, dự đoán đó đã thành hiện thực. Cuối cùng, tôi đã nói rằng "trong hầu như mọi điều kiện, chúng tôi kỳ vọng các cổ phiếu ưu đãi này sẽ hoàn trả cho chúng ta số tiền gốc cộng với cổ tức." Đó là câu mà tôi muốn rút lại. Winston Churchill từng nói rằng "nuốt lời chưa bao giờ làm tôi khó tiêu." Tuy nhiên, khẳng định của tôi rằng gần như không thể có chuyện chúng ta lỗ tiền với các cổ phiếu ưu đãi của mình đã khiến tôi bị ợ nóng đôi chút – một sự ợ nóng hoàn toàn đáng đời.
Our best holding has been Gillette, which we told you from the start was a superior business. Ironically, though, this is also the purchase in which I made my biggest mistake - of a kind, however, never recognized on financial statements.
Khoản nắm giữ tốt nhất của chúng ta là Gillette, công ty mà ngay từ đầu chúng tôi đã nói với các bạn là một doanh nghiệp xuất sắc. Tuy nhiên, trớ trêu thay, đây cũng là thương vụ mua mà trong đó tôi đã phạm sai lầm lớn nhất của mình – dù vậy, đó là loại sai lầm không bao giờ được ghi nhận trên báo cáo tài chính.
We paid $600 million in 1989 for Gillette preferred shares that were convertible into 48 million (split-adjusted) common shares. Taking an alternative route with the $600 million, I probably could have purchased 60 million shares of common from the company. The market on the common was then about $10.50, and given that this would have been a huge private placement carrying important restrictions, I probably could have bought the stock at a discount of at least 5%. I can't be sure about this, but it's likely that Gillette's management would have been just as happy to have Berkshire opt for common.
Năm 1989, chúng ta đã trả 600 triệu USD cho các cổ phiếu ưu đãi của Gillette có thể chuyển đổi thành 48 triệu cổ phiếu phổ thông (đã điều chỉnh theo chia tách cổ phiếu). Nếu đi một con đường khác với 600 triệu USD đó, có lẽ tôi đã có thể mua 60 triệu cổ phiếu phổ thông từ công ty. Giá thị trường của cổ phiếu phổ thông khi đó vào khoảng 10,50 USD, và xét rằng đây sẽ là một đợt chào bán riêng lẻ (private placement) khổng lồ kèm theo những hạn chế quan trọng, có lẽ tôi đã có thể mua cổ phiếu với mức chiết khấu ít nhất 5%. Tôi không thể chắc chắn về điều này, nhưng nhiều khả năng ban điều hành Gillette cũng sẽ hài lòng không kém nếu Berkshire chọn cổ phiếu phổ thông.
But I was far too clever to do that. Instead, for less than two years, we received some extra dividend income (the difference between the preferred's yield and that of the common), at which point the company - quite properly - called the issue, moving to do that as quickly as was possible. If I had negotiated for common rather than preferred, we would have been better off at yearend 1995 by $625 million, minus the "excess" dividends of about $70 million.
Nhưng tôi đã quá khôn ngoan để làm điều đó. Thay vào đó, trong chưa đầy hai năm, chúng ta nhận được một ít thu nhập cổ tức tăng thêm (phần chênh lệch giữa lợi suất của cổ phiếu ưu đãi và lợi suất của cổ phiếu phổ thông), và đến thời điểm đó thì công ty – hoàn toàn đúng đắn – đã gọi mua lại trước hạn đợt phát hành này, tiến hành việc đó nhanh nhất có thể. Nếu tôi đã đàm phán để lấy cổ phiếu phổ thông thay vì cổ phiếu ưu đãi, thì vào cuối năm 1995 chúng ta đã khá hơn 625 triệu USD, trừ đi khoản cổ tức "dôi ra" khoảng 70 triệu USD.
In the case of Champion, the ability of the company to call our preferred at 115% of cost forced a move out of us last August that we would rather have delayed. In this instance, we converted our shares just prior to the pending call and offered them to the company at a modest discount.
Trong trường hợp Champion, quyền của công ty được mua lại trước hạn cổ phiếu ưu đãi của chúng ta ở mức 115% giá gốc đã buộc chúng ta phải có một động thái vào tháng 8 năm ngoái mà lẽ ra chúng ta muốn trì hoãn hơn. Trong trường hợp này, chúng ta đã chuyển đổi cổ phiếu ngay trước đợt mua lại trước hạn sắp diễn ra và chào bán chúng cho công ty với một mức chiết khấu khiêm tốn.
Charlie and I have never had a conviction about the paper industry - actually, I can't remember ever owning the common stock of a paper producer in my 54 years of investing - so our choice in August was whether to sell in the market or to the company. Champion's management had always been candid and honorable in dealing with us and wished to repurchase common shares, so we offered our stock to the company. Our Champion capital gain was moderate - about 19% after tax from a six-year investment - but the preferred delivered us a good after-tax dividend yield throughout our holding period. (That said, many press accounts have overstated the after-tax yields earned by property-casualty insurance companies on dividends paid to them. What the press has failed to take into account is a change in the tax law that took effect in 1987 and that significantly reduced the dividends received credit applicable to insurers. For details, see our 1986 Annual Report.)
Charlie và tôi chưa bao giờ có niềm tin chắc chắn vào ngành giấy – thực ra, tôi không nhớ mình từng sở hữu cổ phiếu phổ thông của một nhà sản xuất giấy nào trong 54 năm đầu tư của mình – vì vậy lựa chọn của chúng tôi vào tháng 8 là bán trên thị trường hay bán cho công ty. Ban điều hành Champion luôn thẳng thắn và đáng trọng trong cách đối xử với chúng tôi và mong muốn mua lại (repurchase) cổ phiếu phổ thông, vì vậy chúng tôi đã chào bán cổ phiếu của mình cho công ty. Lãi vốn của chúng ta từ Champion ở mức vừa phải – khoảng 19% sau thuế cho một khoản đầu tư sáu năm – nhưng cổ phiếu ưu đãi đã mang lại cho chúng ta tỷ suất cổ tức (dividend yield) sau thuế tốt trong suốt thời gian nắm giữ. (Dù vậy, nhiều bài báo đã phóng đại lợi suất sau thuế mà các công ty bảo hiểm tài sản và trách nhiệm kiếm được từ cổ tức chi trả cho họ. Điều mà báo chí đã không tính đến là một thay đổi trong luật thuế có hiệu lực từ năm 1987 và đã làm giảm đáng kể khoản khấu trừ cổ tức nhận được (dividends received credit) áp dụng cho các công ty bảo hiểm. Để biết chi tiết, xem Báo cáo thường niên năm 1986 của chúng ta.)
Our First Empire preferred will be called on March 31, 1996, the earliest date allowable. We are comfortable owning stock in well-run banks, and we will convert and keep our First Empire common shares. Bob Wilmers, CEO of the company, is an outstanding banker, and we love being associated with him.
Cổ phiếu ưu đãi First Empire của chúng ta sẽ được mua lại trước hạn vào ngày 31 tháng 3 năm 1996, ngày sớm nhất được phép. Chúng tôi cảm thấy thoải mái khi sở hữu cổ phiếu của những ngân hàng được điều hành tốt, và chúng ta sẽ chuyển đổi và giữ lại cổ phiếu phổ thông First Empire của mình. Bob Wilmers, CEO của công ty, là một nhà ngân hàng xuất sắc, và chúng tôi rất thích được gắn bó với ông.
Our other two preferreds have been disappointing, though the Salomon preferred has modestly outperformed the fixed-income securities for which it was a substitute. However, the amount of management time Charlie and I have devoted to this holding has been vastly greater than its economic significance to Berkshire. Certainly I never dreamed I would take a new job at age 60 - Salomon interim chairman, that is - because of an earlier purchase of a fixed-income security.
Hai cổ phiếu ưu đãi còn lại của chúng ta đã gây thất vọng, dù cổ phiếu ưu đãi Salomon đã có kết quả tốt hơn ở mức khiêm tốn so với các chứng khoán thu nhập cố định mà nó thay thế. Tuy nhiên, lượng thời gian quản lý mà Charlie và tôi đã dành cho khoản nắm giữ này lớn hơn rất nhiều so với tầm quan trọng kinh tế của nó đối với Berkshire. Chắc chắn tôi chưa bao giờ mơ rằng mình sẽ nhận một công việc mới ở tuổi 60 – cụ thể là Chủ tịch lâm thời của Salomon – vì một thương vụ mua chứng khoán thu nhập cố định trước đó.
Soon after our purchase of the Salomon preferred in 1987, I wrote that I had "no special insights regarding the direction or future profitability of investment banking." Even the most charitable commentator would conclude that I have since proved my point.
Không lâu sau khi chúng ta mua cổ phiếu ưu đãi Salomon năm 1987, tôi đã viết rằng tôi "không có hiểu biết sâu sắc đặc biệt nào về định hướng hay mức sinh lời tương lai của ngành ngân hàng đầu tư." Ngay cả nhà bình luận rộng lượng nhất cũng sẽ kết luận rằng kể từ đó tôi đã chứng minh được nhận định của mình.
To date, our option to convert into Salomon common has not proven of value. Furthermore, the Dow Industrials have doubled since I committed to buy the preferred, and the brokerage group has performed equally as well. That means my decision to go with Salomon because I saw value in the conversion option must be graded as very poor. Even so, the preferred has continued under some trying conditions to deliver as a fixed-income security, and the 9% dividend is currently quite attractive.
Cho đến nay, quyền chuyển đổi sang cổ phiếu phổ thông Salomon của chúng ta vẫn chưa chứng tỏ được giá trị. Hơn nữa, chỉ số Dow công nghiệp đã tăng gấp đôi kể từ khi tôi cam kết mua cổ phiếu ưu đãi này, và nhóm cổ phiếu môi giới chứng khoán cũng có kết quả tốt không kém. Điều đó có nghĩa là quyết định chọn Salomon của tôi vì tôi thấy giá trị ở quyền chuyển đổi (conversion option) phải bị chấm điểm là rất kém. Dù vậy, trong một số điều kiện đầy khó khăn, cổ phiếu ưu đãi này vẫn tiếp tục làm tròn vai trò một chứng khoán thu nhập cố định, và mức cổ tức 9% hiện đang rất hấp dẫn.
Unless the preferred is converted, its terms require redemption of 20% of the issue on October 31 of each year, 1995-99, and $140 million of our original $700 million was taken on schedule last year. (Some press reports labeled this a sale, but a senior security that matures is not "sold.") Though we did not elect to convert the preferred that matured last year, we have four more bites at the conversion apple, and I believe it quite likely that we will yet find value in our right to convert.
Trừ khi cổ phiếu ưu đãi được chuyển đổi, các điều khoản của nó yêu cầu hoàn lại 20% đợt phát hành vào ngày 31 tháng 10 mỗi năm, giai đoạn 1995-99, và 140 triệu USD trong số 700 triệu USD ban đầu của chúng ta đã được hoàn lại đúng lịch vào năm ngoái. (Một số bài báo gọi việc này là bán, nhưng một chứng khoán có thứ tự ưu tiên cao (senior security) đến hạn thì không phải là "được bán".) Dù chúng ta đã không chọn chuyển đổi phần cổ phiếu ưu đãi đến hạn năm ngoái, chúng ta vẫn còn bốn lần nữa để cắn vào quả táo chuyển đổi, và tôi tin rằng rất có khả năng chúng ta rồi sẽ tìm thấy giá trị ở quyền chuyển đổi của mình.
I discussed the USAir investment at length in last year's report. The company's results improved in 1995, but it still faces significant problems. On the plus side for us is the fact that our preferred is structurally well-designed: For example, though we have not been paid dividends since June 1994, the amounts owed us are compounding at 5% over the prime rate. On the minus side is the fact that we are dealing with a weak credit.
Tôi đã bàn kỹ lưỡng về khoản đầu tư USAir trong báo cáo năm ngoái. Kết quả của công ty đã cải thiện trong năm 1995, nhưng công ty vẫn đối mặt với những vấn đề đáng kể. Điểm có lợi cho chúng ta là cổ phiếu ưu đãi của chúng ta được thiết kế tốt về mặt cấu trúc: Ví dụ, dù chúng ta chưa được trả cổ tức kể từ tháng 6 năm 1994, các khoản đang nợ chúng ta vẫn được tính lãi kép ở mức cao hơn 5% so với lãi suất cơ bản (prime rate). Điểm bất lợi là chúng ta đang làm việc với một bên có tín nhiệm yếu.
We feel much better about our USAir preferred than we did a year ago, but your guess is as good as mine as to its ultimate value. (Indeed, considering my record with this investment, it's fair to say that your guess may be better than mine.) At yearend we carried our preferred (in which there is no public market) at 60% of par, though USAir also has outstanding a junior preferred that is significantly inferior to ours in all respects except conversion price and that was then trading at 82% of par. As I write this, the junior issue has advanced to 97% of par. Let's hope the market is right.
Chúng tôi cảm thấy yên tâm hơn nhiều về cổ phiếu ưu đãi USAir của chúng ta so với một năm trước, nhưng về giá trị cuối cùng của nó thì các bạn đoán cũng chẳng kém gì tôi. (Thật vậy, xét thành tích của tôi với khoản đầu tư này, có thể nói công bằng rằng các bạn đoán có khi còn giỏi hơn tôi.) Vào cuối năm, chúng ta ghi nhận cổ phiếu ưu đãi của mình (vốn không có thị trường giao dịch công khai) ở mức 60% mệnh giá, dù USAir cũng có một loại cổ phiếu ưu đãi thứ cấp (junior preferred) đang lưu hành, kém hơn đáng kể so với loại của chúng ta trên mọi phương diện ngoại trừ giá chuyển đổi (conversion price), và loại này khi đó đang giao dịch ở mức 82% mệnh giá. Vào lúc tôi viết những dòng này, loại phát hành thứ cấp đó đã tăng lên 97% mệnh giá. Hãy hy vọng thị trường đúng.
Overall, our preferreds have performed well, but that is true only because of one huge winner, Gillette. Leaving aside Gillette, our preferreds as a group have delivered us after-tax returns no more than equal to those we could have earned from the medium-term fixed-income issues that they replaced.
Nhìn chung, các cổ phiếu ưu đãi của chúng ta đã có kết quả tốt, nhưng điều đó đúng chỉ nhờ một khoản thắng lớn, Gillette. Nếu gạt Gillette sang một bên, các cổ phiếu ưu đãi của chúng ta, xét chung cả nhóm, đã mang lại cho chúng ta tỷ suất sinh lời sau thuế không hơn mức chúng ta có thể kiếm được từ các chứng khoán thu nhập cố định trung hạn mà chúng thay thế.
A Proposed Recapitalization
Đề xuất tái cơ cấu vốn
At the Annual Meeting you will be asked to approve a recapitalization of Berkshire, creating two classes of stock. If the plan is adopted, our existing common stock will be designated as Class A Common Stock and a new Class B Common Stock will be authorized.
Tại Đại hội cổ đông thường niên, các bạn sẽ được đề nghị phê chuẩn việc tái cơ cấu vốn của Berkshire, tạo ra hai loại cổ phiếu. Nếu phương án được thông qua, cổ phiếu phổ thông hiện có của chúng ta sẽ được gọi là cổ phiếu phổ thông loại A và một loại cổ phiếu phổ thông loại B mới sẽ được cho phép phát hành.
Each share of the "B" will have the rights of 1/30th of an "A" share with these exceptions: First, a B share will have 1/200th of the vote of an A share (rather than 1/30th of the vote). Second, the B will not be eligible to participate in Berkshire's shareholder-designated charitable contributions program.
Mỗi cổ phiếu "B" sẽ có các quyền bằng 1/30 quyền của một cổ phiếu "A", với các ngoại lệ sau: Thứ nhất, một cổ phiếu B sẽ có 1/200 quyền biểu quyết của một cổ phiếu A (thay vì 1/30 quyền biểu quyết). Thứ hai, cổ phiếu B sẽ không đủ điều kiện tham gia chương trình đóng góp từ thiện do cổ đông chỉ định của Berkshire.
When the recapitalization is complete, each share of A will become convertible, at the holder's option and at any time, into 30 shares of B. This conversion privilege will not extend in the opposite direction. That is, holders of B shares will not be able to convert them into A shares.
Khi việc tái cơ cấu vốn hoàn tất, mỗi cổ phiếu A sẽ có thể được chuyển đổi, theo lựa chọn của người nắm giữ và vào bất kỳ lúc nào, thành 30 cổ phiếu B. Quyền chuyển đổi này sẽ không áp dụng theo chiều ngược lại. Nghĩa là, người nắm giữ cổ phiếu B sẽ không thể chuyển đổi chúng thành cổ phiếu A.
We expect to list the B shares on the New York Stock Exchange, where they will trade alongside the A stock. To create the shareholder base necessary for a listing - and to ensure a liquid market in the B stock - Berkshire expects to make a public offering for cash of at least $100 million of new B shares. The offering will be made only by means of a prospectus.
Chúng tôi dự kiến niêm yết cổ phiếu B tại Sở Giao dịch Chứng khoán New York (New York Stock Exchange), nơi chúng sẽ được giao dịch song song với cổ phiếu A. Để tạo ra cơ sở cổ đông cần thiết cho việc niêm yết – và để bảo đảm một thị trường có thanh khoản cho cổ phiếu B – Berkshire dự kiến thực hiện một đợt chào bán ra công chúng để thu tiền mặt, với ít nhất 100 triệu USD cổ phiếu B mới. Đợt chào bán sẽ chỉ được thực hiện thông qua bản cáo bạch (prospectus).
The market will ultimately determine the price of the B shares. Their price, though, should be in the neighborhood of 1/30th of the price of the A shares.
Rốt cuộc, chính thị trường sẽ quyết định giá của cổ phiếu B. Tuy nhiên, giá của chúng dự kiến sẽ ở quanh mức 1/30 giá cổ phiếu A.
Class A shareholders who wish to give gifts may find it convenient to convert a share or two of their stock into Class B shares. Additionally, arbitrage-related conversions will occur if demand for the B is strong enough to push its price to slightly above 1/30th of the price of A.
Những cổ đông nắm cổ phiếu loại A muốn tặng quà có thể thấy thuận tiện khi chuyển đổi một hoặc hai cổ phiếu của mình thành cổ phiếu loại B. Ngoài ra, các giao dịch chuyển đổi mang tính kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) sẽ diễn ra nếu nhu cầu đối với cổ phiếu B đủ mạnh để đẩy giá của nó lên hơi cao hơn 1/30 giá cổ phiếu A.
However, because the Class A stock will entitle its holders to full voting rights and access to Berkshire's contributions program, these shares will be superior to the Class B shares and we would expect most shareholders to remain holders of the Class A - which is precisely what the Buffett and Munger families plan to do, except in those instances when we ourselves might convert a few shares to facilitate gifts. The prospect that most shareholders will stick to the A stock suggests that it will enjoy a somewhat more liquid market than the B.
Tuy nhiên, vì cổ phiếu loại A sẽ mang lại cho người nắm giữ đầy đủ quyền biểu quyết và quyền tham gia chương trình đóng góp của Berkshire, những cổ phiếu này sẽ ưu việt hơn cổ phiếu loại B và chúng tôi dự kiến phần lớn cổ đông sẽ tiếp tục nắm giữ cổ phiếu loại A – đó chính xác là điều mà gia đình Buffett và gia đình Munger dự định làm, ngoại trừ những trường hợp mà chính chúng tôi có thể chuyển đổi một vài cổ phiếu để thuận tiện cho việc tặng quà. Viễn cảnh phần lớn cổ đông sẽ gắn bó với cổ phiếu A cho thấy cổ phiếu này sẽ có một thị trường thanh khoản hơn đôi chút so với cổ phiếu B.
There are tradeoffs for Berkshire in this recapitalization. But they do not arise from the proceeds of the offering - we will find constructive uses for the money - nor in any degree from the price at which we will sell the B shares. As I write this - with Berkshire stock at $36,000 - Charlie and I do not believe it undervalued. Therefore, the offering we propose will not diminish the per-share intrinsic value of our existing stock. Let me also put our thoughts about valuation more baldly: Berkshire is selling at a price at which Charlie and I would not consider buying it.
Việc tái cơ cấu vốn này có những đánh đổi đối với Berkshire. Nhưng chúng không phát sinh từ số tiền thu được từ đợt chào bán – chúng tôi sẽ tìm được những cách sử dụng mang tính xây dựng cho số tiền đó – và cũng hoàn toàn không phát sinh từ mức giá mà chúng ta sẽ bán cổ phiếu B. Vào lúc tôi viết những dòng này – với cổ phiếu Berkshire ở mức 36.000 USD – Charlie và tôi không tin rằng nó đang bị định giá thấp. Do đó, đợt chào bán mà chúng tôi đề xuất sẽ không làm giảm giá trị nội tại (intrinsic value) trên mỗi cổ phiếu của cổ phiếu hiện có của chúng ta. Tôi cũng xin nói thẳng thừng hơn những suy nghĩ của chúng tôi về định giá: Berkshire đang được bán ở mức giá mà Charlie và tôi sẽ không cân nhắc mua nó.
What Berkshire will incur by way of the B stock are certain added costs, including those involving the mechanics of handling a larger number of shareholders. On the other hand, the stock should be a convenience for people wishing to make gifts. And those of you who have hoped for a split have gained a do-it-yourself method of bringing one about.
Những gì Berkshire sẽ phải gánh chịu do cổ phiếu B là một số chi phí tăng thêm, bao gồm các chi phí liên quan đến khâu xử lý cho một số lượng cổ đông lớn hơn. Mặt khác, cổ phiếu này dự kiến sẽ là một sự tiện lợi cho những người muốn tặng quà. Và những bạn từng mong có một đợt chia tách cổ phiếu nay đã có được một phương pháp để tự mình thực hiện việc chia tách.
We are making this move, though, for other reasons - having to do with the appearance of expense-laden unit trusts purporting to be low-priced "clones" of Berkshire and sure to be aggressively marketed. The idea behind these vehicles is not new: In recent years, a number of people have told me about their wish to create an "all-Berkshire" investment fund to be sold at a low dollar price. But until recently, the promoters of these investments heard out my objections and backed off.
Tuy nhiên, chúng tôi thực hiện động thái này vì những lý do khác – liên quan đến sự xuất hiện của các quỹ tín thác đơn vị (unit trusts) nặng chi phí, tự nhận là các "bản sao" giá thấp của Berkshire và chắc chắn sẽ được tiếp thị ráo riết. Ý tưởng đằng sau những phương tiện đầu tư này không mới: Trong những năm gần đây, một số người đã nói với tôi về mong muốn của họ là lập ra một quỹ đầu tư "toàn Berkshire" để bán với mức giá thấp tính bằng đô-la. Nhưng cho đến gần đây, những người khởi xướng các khoản đầu tư này đều đã lắng nghe hết những phản đối của tôi và rút lui.
I did not discourage these people because I prefer large investors over small. Were it possible, Charlie and I would love to turn $1,000 into $3,000 for multitudes of people who would find that gain an important answer to their immediate problems.
Tôi can ngăn những người này không phải vì tôi thích nhà đầu tư lớn hơn nhà đầu tư nhỏ. Nếu có thể, Charlie và tôi rất muốn biến 1.000 USD thành 3.000 USD cho vô số người, những người sẽ thấy khoản lãi đó là lời giải quan trọng cho những vấn đề trước mắt của họ.
In order to quickly triple small stakes, however, we would have to just as quickly turn our present market capitalization of $43 billion into $129 billion (roughly the market cap of General Electric, America's most highly valued company). We can't come close to doing that. The very best we hope for is - on average - to double Berkshire's per-share intrinsic value every five years, and we may well fall far short of that goal.
Tuy nhiên, để nhanh chóng tăng gấp ba những khoản vốn nhỏ, chúng tôi sẽ phải nhanh chóng không kém biến vốn hóa thị trường (market capitalization) hiện tại 43 tỷ USD của chúng ta thành 129 tỷ USD (gần bằng vốn hóa thị trường của General Electric, công ty được định giá cao nhất nước Mỹ). Chúng tôi còn lâu mới làm được điều đó. Điều tốt nhất mà chúng tôi hy vọng là – tính trung bình – tăng gấp đôi giá trị nội tại trên mỗi cổ phiếu của Berkshire sau mỗi năm năm, và rất có thể chúng tôi sẽ còn kém xa mục tiêu đó.
In the end, Charlie and I do not care whether our shareholders own Berkshire in large or small amounts. What we wish for are shareholders of any size who are knowledgeable about our operations, share our objectives and long-term perspective, and are aware of our limitations, most particularly those imposed by our large capital base.
Rốt cuộc, Charlie và tôi không bận tâm việc cổ đông của chúng ta sở hữu Berkshire với số lượng lớn hay nhỏ. Điều chúng tôi mong muốn là những cổ đông thuộc bất kỳ quy mô nào hiểu biết về hoạt động của chúng ta, chia sẻ các mục tiêu và tầm nhìn dài hạn của chúng ta, và nhận thức được những giới hạn của chúng ta, đặc biệt là những giới hạn do cơ sở vốn lớn của chúng ta áp đặt.
The unit trusts that have recently surfaced fly in the face of these goals. They would be sold by brokers working for big commissions, would impose other burdensome costs on their shareholders, and would be marketed en masse to unsophisticated buyers, apt to be seduced by our past record and beguiled by the publicity Berkshire and I have received in recent years. The sure outcome: a multitude of investors destined to be disappointed.
Các quỹ tín thác đơn vị vừa xuất hiện gần đây đi ngược hẳn với những mục tiêu này. Chúng sẽ do những nhà môi giới làm việc vì những khoản hoa hồng lớn bán ra, sẽ áp đặt những chi phí nặng nề khác lên các cổ đông của chúng, và sẽ được tiếp thị đại trà tới những người mua thiếu hiểu biết, những người dễ bị cám dỗ bởi thành tích quá khứ của chúng ta và bị mê hoặc bởi sự chú ý của báo chí mà Berkshire và tôi nhận được trong những năm gần đây. Kết cục chắc chắn: vô số nhà đầu tư rồi sẽ thất vọng.
Through our creation of the B stock - a low-denomination product far superior to Berkshire-only trusts - we hope to make the clones unmerchandisable.
Thông qua việc tạo ra cổ phiếu B – một sản phẩm có đơn giá thấp ưu việt hơn hẳn các quỹ tín thác chỉ nắm Berkshire – chúng tôi hy vọng khiến các bản sao không thể bán được.
But both present and prospective Berkshire shareholders should pay special attention to one point: Though the per-share intrinsic value of our stock has grown at an excellent rate during the past five years, its market price has grown still faster. The stock, in other words, has outperformed the business.
Nhưng cả cổ đông hiện tại lẫn cổ đông tương lai của Berkshire cần đặc biệt chú ý đến một điểm: Dù giá trị nội tại trên mỗi cổ phiếu của chúng ta đã tăng trưởng với tốc độ tuyệt vời trong năm năm qua, giá thị trường của nó còn tăng nhanh hơn nữa. Nói cách khác, cổ phiếu đã có kết quả vượt trội so với doanh nghiệp.
That kind of market overperformance cannot persist indefinitely, neither for Berkshire nor any other stock. Inevitably, there will be periods of underperformance as well. The price volatility that results, though endemic to public markets, is not to our liking. What we would prefer instead is to have the market price of Berkshire precisely track its intrinsic value. Were the stock to do that, every shareholder would benefit during his period of ownership in exact proportion to the progress Berkshire itself made in the period.
Kiểu vượt trội trên thị trường đó không thể kéo dài mãi mãi, dù với Berkshire hay với bất kỳ cổ phiếu nào khác. Tất yếu cũng sẽ có những giai đoạn có kết quả kém hơn. Mức biến động giá phát sinh từ đó, dù là đặc trưng cố hữu của các thị trường đại chúng, không phải là điều chúng tôi ưa thích. Thay vào đó, điều chúng tôi mong muốn hơn là giá thị trường của Berkshire bám sát chính xác giá trị nội tại của nó. Nếu cổ phiếu làm được như vậy, mỗi cổ đông sẽ được hưởng lợi trong thời gian sở hữu của mình theo đúng tỷ lệ chính xác với tiến bộ mà bản thân Berkshire đạt được trong thời gian đó.
Obviously, the market behavior of Berkshire's stock will never conform to this ideal. But we will come closer to this goal than we would otherwise if our present and prospective shareholders are informed, business-oriented and not exposed to high-commission salesmanship when making their investment decisions. To that end, we are better off if we can blunt the merchandising efforts of the unit trusts - and that is the reason we are creating the B stock.
Hiển nhiên, diễn biến thị trường của cổ phiếu Berkshire sẽ không bao giờ khớp với lý tưởng này. Nhưng chúng ta sẽ tiến gần mục tiêu này hơn so với trường hợp ngược lại nếu các cổ đông hiện tại và tương lai của chúng ta có hiểu biết, có định hướng kinh doanh và không bị tiếp xúc với những chiêu bán hàng ăn hoa hồng cao khi đưa ra quyết định đầu tư. Vì mục đích đó, chúng ta sẽ có lợi hơn nếu có thể làm cùn những nỗ lực bán hàng của các quỹ tín thác đơn vị – và đó là lý do chúng tôi tạo ra cổ phiếu B.
We look forward to answering your questions about the recapitalization at the Annual Meeting.
Chúng tôi mong được trả lời các câu hỏi của các bạn về việc tái cơ cấu vốn tại Đại hội cổ đông thường niên.
Miscellaneous
Các vấn đề khác
Berkshire isn't the only American corporation utilizing the new, exciting ABWA strategy. At about 1 p.m. on July 14, 1995, Michael Eisner, CEO of The Walt Disney Company, was walking up Wildflower Lane in Sun Valley. At the same time, I was leaving a lunch at Herbert Allen's home on that street to meet Tom Murphy, CEO of Cap Cities/ABC, for a golf game.
Berkshire không phải là tập đoàn Mỹ duy nhất áp dụng chiến lược ABWA mới mẻ, đầy hứng khởi. Vào khoảng 1 chiều ngày 14 tháng 7 năm 1995, Michael Eisner, CEO của The Walt Disney Company, đang đi bộ lên Wildflower Lane ở Sun Valley. Cùng lúc đó, tôi đang rời một bữa trưa tại nhà Herbert Allen trên con phố đó để gặp Tom Murphy, CEO của Cap Cities/ABC, cho một trận golf.
That morning, speaking to a large group of executives and money managers assembled by Allen's investment bank, Michael had made a brilliant presentation about Disney, and upon seeing him, I offered my congratulations. We chatted briefly - and the subject of a possible combination of Disney and Cap Cities came up. This wasn't the first time a merger had been discussed, but progress had never before been made, in part because Disney wanted to buy with cash and Cap Cities desired stock.
Sáng hôm đó, khi phát biểu trước một nhóm lớn các nhà điều hành và nhà quản lý tiền do ngân hàng đầu tư của Allen tập hợp, Michael đã có một bài thuyết trình xuất sắc về Disney, và khi gặp ông, tôi đã gửi lời chúc mừng. Chúng tôi trò chuyện chốc lát – và chủ đề về khả năng kết hợp giữa Disney và Cap Cities được nhắc tới. Đây không phải là lần đầu tiên một thương vụ sáp nhập được bàn tới, nhưng trước đó chưa bao giờ có tiến triển, một phần vì Disney muốn mua bằng tiền mặt còn Cap Cities muốn nhận cổ phiếu.
Michael and I waited a few minutes for Murph to arrive, and in the short conversation that ensued, both Michael and Murph indicated they might bend on the stock/cash question. Within a few weeks, they both did, at which point a contract was put together in three very busy days.
Michael và tôi chờ vài phút để Murph đến, và trong cuộc trò chuyện ngắn diễn ra sau đó, cả Michael lẫn Murph đều cho thấy họ có thể nhượng bộ trong vấn đề cổ phiếu/tiền mặt. Trong vòng vài tuần, cả hai đều đã nhượng bộ, và đến thời điểm đó một hợp đồng đã được soạn xong trong ba ngày rất bận rộn.
The Disney/Cap Cities deal makes so much sense that I'm sure it would have occurred without that chance encounter in Sun Valley. But when I ran into Michael that day on Wildflower Lane, he was heading for his plane, so without that accidental meeting the deal certainly wouldn't have happened in the time frame it did. I believe both Disney and Cap Cities will benefit from the fact that we all serendipitously met that day.
Thương vụ Disney/Cap Cities hợp lý đến mức tôi chắc chắn nó vẫn sẽ diễn ra kể cả khi không có cuộc gặp tình cờ đó ở Sun Valley. Nhưng khi tôi chạm mặt Michael hôm đó trên Wildflower Lane, ông đang trên đường ra máy bay của mình, vì vậy nếu không có cuộc gặp ngẫu nhiên ấy, thương vụ chắc chắn đã không diễn ra trong khung thời gian như nó đã diễn ra. Tôi tin rằng cả Disney và Cap Cities đều sẽ được hưởng lợi từ việc tất cả chúng tôi tình cờ may mắn gặp nhau hôm đó.
It's appropriate that I say a few words here about Murph. To put it simply, he is as fine an executive as I have ever seen in my long exposure to business. Equally important, he possesses human qualities every bit the equal of his managerial qualities. He's an extraordinary friend, parent, husband and citizen. In those rare instances in which Murph's personal interests diverged from those of shareholders, he unfailingly favored the owners. When I say that I like to be associated with managers whom I would love to have as a sibling, in-law, or trustee of my will, Murph is the exemplar of what I mean.
Thật phù hợp để tôi nói đôi lời ở đây về Murph. Nói một cách đơn giản, ông là một nhà điều hành giỏi không kém bất kỳ ai mà tôi từng thấy trong suốt quá trình tiếp xúc lâu dài với giới kinh doanh. Quan trọng không kém, ông sở hữu những phẩm chất con người hoàn toàn ngang tầm với những phẩm chất quản lý của ông. Ông là một người bạn, người cha, người chồng và người công dân phi thường. Trong những trường hợp hiếm hoi mà lợi ích cá nhân của Murph khác với lợi ích của cổ đông, ông luôn luôn ưu tiên các chủ sở hữu. Khi tôi nói rằng tôi thích gắn bó với những nhà quản lý mà tôi rất muốn có làm anh chị em ruột, người thân bên thông gia, hay người được ủy thác thi hành di chúc của mình, thì Murph chính là hình mẫu cho điều tôi muốn nói.
If Murph should elect to run another business, don't bother to study its value - just buy the stock. And don't later be as dumb as I was two years ago when I sold one-third of our holdings in Cap Cities for $635 million (versus the $1.27 billion those shares would bring in the Disney merger).
Nếu Murph chọn điều hành một doanh nghiệp khác, đừng mất công nghiên cứu giá trị của nó – cứ mua cổ phiếu thôi. Và về sau đừng ngớ ngẩn như tôi hai năm trước, khi tôi bán một phần ba lượng cổ phần của chúng ta tại Cap Cities với giá 635 triệu USD (so với 1,27 tỷ USD mà số cổ phần đó sẽ mang về trong thương vụ sáp nhập với Disney).
About 96.3% of all eligible shares participated in Berkshire's 1995 shareholder-designated contributions program. Contributions made were $11.6 million and 3,600 charities were recipients. A full description of the shareholder-designated contributions program appears on pages 54-55.
Khoảng 96,3% tổng số cổ phiếu đủ điều kiện đã tham gia chương trình đóng góp từ thiện do cổ đông chỉ định (shareholder-designated contributions) năm 1995 của Berkshire. Tổng số tiền đóng góp đã thực hiện là 11,6 triệu USD và 3.600 tổ chức từ thiện đã nhận tiền. Mô tả đầy đủ về chương trình đóng góp từ thiện do cổ đông chỉ định có ở các trang 54-55.
Every year a few shareholders miss out on the program because they don't have their shares registered in their own names on the prescribed record date or because they fail to get their designation form back to us within the 60-day period allowed. That second problem pained me especially this year because two good friends with substantial holdings missed the deadline. We had to deny their requests to be included because we can't make exceptions for some shareholders while refusing to make them for others.
Mỗi năm, một vài cổ đông bỏ lỡ chương trình vì họ không đăng ký cổ phiếu đứng tên chính mình vào ngày đăng ký cuối cùng (record date) đã quy định, hoặc vì họ không gửi lại phiếu chỉ định cho chúng tôi trong thời hạn 60 ngày cho phép. Vấn đề thứ hai đó khiến tôi đặc biệt đau lòng năm nay vì hai người bạn tốt nắm giữ lượng cổ phiếu đáng kể đã lỡ hạn chót. Chúng tôi đã phải từ chối yêu cầu được đưa vào chương trình của họ, vì chúng tôi không thể tạo ngoại lệ cho một số cổ đông trong khi lại từ chối làm vậy với những cổ đông khác.
To participate in future programs, you must own Class A shares that are registered in the name of the actual owner, not the nominee name of a broker, bank or depository. Shares not so registered on August 31, 1996, will be ineligible for the 1996 program. When you get the form, return it promptly so that it does not get put aside or forgotten.
Để tham gia các chương trình trong tương lai, các bạn phải sở hữu cổ phiếu A được đăng ký đứng tên chủ sở hữu thực sự, chứ không phải dưới danh nghĩa người đứng tên hộ (nominee name) là công ty môi giới, ngân hàng hay tổ chức lưu ký. Cổ phiếu không được đăng ký như vậy vào ngày 31 tháng 8 năm 1996 sẽ không đủ điều kiện tham gia chương trình năm 1996. Khi nhận được phiếu, hãy gửi lại ngay để phiếu không bị gác sang một bên hay bị lãng quên.
When it comes to our Annual Meetings, Charlie and I are managerial oddballs: We thoroughly enjoy the event. So come join us on Monday, May 6. At Berkshire, we have no investor relations department and don't use financial analysts as a channel for disseminating information, earnings "guidance," or the like. Instead, we prefer direct manager-to-owner communication and believe that the Annual Meeting is the ideal place for this interchange of ideas. Talking to you there is efficient for us and also democratic in that all present simultaneously hear what we have to say.
Khi nói đến các kỳ Đại hội cổ đông thường niên, Charlie và tôi là những nhà quản lý lập dị: Chúng tôi hoàn toàn thích thú với sự kiện này. Vì vậy hãy đến cùng chúng tôi vào thứ Hai, ngày 6 tháng 5. Tại Berkshire, chúng ta không có bộ phận quan hệ nhà đầu tư và không dùng các nhà phân tích tài chính làm kênh phổ biến thông tin, định hướng lợi nhuận ("guidance") hay những thứ tương tự. Thay vào đó, chúng tôi ưa thích sự giao tiếp trực tiếp giữa người quản lý và chủ sở hữu, và tin rằng Đại hội cổ đông thường niên là nơi lý tưởng cho việc trao đổi ý kiến này. Trò chuyện với các bạn ở đó vừa hiệu quả đối với chúng tôi, vừa dân chủ ở chỗ tất cả những người có mặt đều cùng lúc nghe những gì chúng tôi nói.
Last year, for the first time, we had the Annual Meeting at the Holiday Convention Centre and the logistics seemed to work. The ballroom there was filled with about 3,200 people, and we had a video feed into a second room holding another 800 people. Seating in the main room was a little tight, so this year we will probably configure it to hold 3,000. This year we will also have two rooms for the overflow.
Năm ngoái, lần đầu tiên, chúng ta tổ chức Đại hội cổ đông thường niên tại Holiday Convention Centre và công tác hậu cần có vẻ đã suôn sẻ. Phòng đại tiệc ở đó chật kín với khoảng 3.200 người, và chúng tôi có đường truyền video sang một phòng thứ hai chứa thêm 800 người. Chỗ ngồi trong phòng chính hơi chật, vì vậy năm nay chúng tôi có lẽ sẽ bố trí để phòng chứa 3.000 người. Năm nay chúng tôi cũng sẽ có hai phòng cho số người tràn ra.
All in all, we will be able to handle 5,000 shareholders. The meeting will start at 9 a.m., but be warned that last year the main ballroom was filled shortly after 8 a.m.
Tổng cộng, chúng tôi sẽ có thể đón 5.000 cổ đông. Đại hội sẽ bắt đầu lúc 9 sáng, nhưng xin lưu ý rằng năm ngoái phòng đại tiệc chính đã kín chỗ ngay sau 8 sáng.
Shareholders from 49 states attended our 1995 meeting - where were you, Vermont? - and a number of foreign countries, including Australia, Sweden and Germany, were represented. As always, the meeting attracted shareholders who were interested in Berkshire's business - as contrasted to shareholders who are primarily interested in themselves - and the questions were all good. Charlie and I ate lunch on stage and answered questions for about five hours.
Các cổ đông từ 49 bang đã tham dự đại hội năm 1995 của chúng ta – Vermont, các bạn ở đâu? – và một số quốc gia nước ngoài, bao gồm Úc, Thụy Điển và Đức, cũng có đại diện. Như mọi khi, đại hội thu hút những cổ đông quan tâm đến hoạt động kinh doanh của Berkshire – trái ngược với những cổ đông chủ yếu quan tâm đến bản thân họ – và các câu hỏi đều hay. Charlie và tôi ăn trưa ngay trên sân khấu và trả lời câu hỏi trong khoảng năm giờ đồng hồ.
We feel that if owners come from all over the world, we should try to make sure they have an opportunity to ask their questions. Most shareholders leave about noon, but a thousand or so hardcore types usually stay to see whether we will drop. Charlie and I are in training to last at least five hours again this year.
Chúng tôi cảm thấy rằng nếu các chủ sở hữu đến từ khắp nơi trên thế giới, chúng tôi nên cố gắng bảo đảm họ có cơ hội đặt câu hỏi của mình. Phần lớn cổ đông ra về khoảng giữa trưa, nhưng khoảng một nghìn người thuộc dạng cứng cựa thường ở lại để xem liệu chúng tôi có gục ngã không. Charlie và tôi đang luyện tập để trụ được ít nhất năm giờ đồng hồ một lần nữa trong năm nay.
We will have our usual array of Berkshire products at the meeting and this year will add a sales representative from GEICO. At the 1995 meeting, we sold 747 pounds of candy, 759 pairs of shoes, and over $17,500 of World Books and related publications. In a move that might have been dangerous had our stock been weak, we added knives last year from our Quikut subsidiary and sold 400 sets of these. (We draw the line at soft fruit, however.) All of these goods will again be available this year. We don't consider a cultural event complete unless a little business is mixed in.
Chúng tôi sẽ có dãy sản phẩm Berkshire như thường lệ tại đại hội và năm nay sẽ bổ sung một nhân viên kinh doanh của GEICO. Tại đại hội năm 1995, chúng tôi đã bán 747 pound kẹo, 759 đôi giày và hơn 17.500 USD sách World Book cùng các ấn phẩm liên quan. Trong một động thái lẽ ra có thể nguy hiểm nếu cổ phiếu của chúng ta đang yếu, năm ngoái chúng tôi đã bổ sung dao của công ty con Quikut và bán được 400 bộ. (Tuy nhiên, chúng tôi dừng lại ở mức không bán trái cây mềm.) Tất cả những mặt hàng này sẽ lại có mặt trong năm nay. Chúng tôi không coi một sự kiện văn hóa là trọn vẹn nếu không pha trộn vào đó một chút kinh doanh.
Because we expect a large crowd for the meeting, we recommend that you promptly get both plane and hotel reservations. Those of you who like to be downtown (about six miles from the Centre) may wish to stay at the Radisson Redick Tower, a small (88 rooms) but nice hotel, or at the much larger Red Lion Hotel a few blocks away. In the vicinity of the Centre are the Holiday Inn (403 rooms), Homewood Suites (118 rooms) and Hampton Inn (136 rooms). Another recommended spot is the Marriott, whose west Omaha location is about 100 yards from Borsheim's and a ten-minute drive from the Centre. There will be buses at the Marriott that will leave at 7, 8 and 8 for the meeting and return after it ends.
Vì chúng tôi dự kiến sẽ có đông người tham dự đại hội, chúng tôi khuyên các bạn nhanh chóng đặt cả vé máy bay lẫn phòng khách sạn. Những bạn thích ở trung tâm thành phố (cách Centre khoảng sáu dặm) có thể muốn ở tại Radisson Redick Tower, một khách sạn nhỏ (88 phòng) nhưng đẹp, hoặc tại Red Lion Hotel lớn hơn nhiều, cách đó vài dãy phố. Ở khu vực lân cận Centre có Holiday Inn (403 phòng), Homewood Suites (118 phòng) và Hampton Inn (136 phòng). Một địa điểm khác được giới thiệu là Marriott, nằm ở phía tây Omaha, cách Borsheim's khoảng 100 yard và cách Centre mười phút lái xe. Sẽ có xe buýt tại Marriott khởi hành lúc 7, 8 và 8 để đến đại hội và đưa các bạn quay về sau khi đại hội kết thúc.
An attachment to our proxy material explains how you can obtain the card you will need for admission to the meeting. A good-sized parking area is available at the Centre, while those who stay at the Holiday Inn, Homewood Suites and Hampton Inn will be able to walk to the meeting. As usual, we will have buses to take you to the Nebraska Furniture Mart and Borsheim's after the meeting and to take you from there to hotels or the airport later.
Một tài liệu đính kèm theo tài liệu ủy quyền biểu quyết (proxy material) của chúng tôi giải thích cách các bạn có thể nhận được tấm thẻ cần thiết để vào dự đại hội. Có một bãi đỗ xe khá rộng tại Centre, còn những bạn ở tại Holiday Inn, Homewood Suites và Hampton Inn sẽ có thể đi bộ đến đại hội. Như thường lệ, chúng tôi sẽ bố trí xe buýt đưa các bạn đến Nebraska Furniture Mart và Borsheim's sau đại hội, rồi sau đó đưa các bạn từ đó về khách sạn hoặc ra sân bay.
NFM's main store, on its 64-acre site about two miles north of the Centre, is open from 10 a.m. to 9 p.m. on weekdays, 10 a.m. to 6 p.m. on Saturdays, and noon to 6 p.m. on Sundays. Rose Blumkin - "Mrs. B" - is now 102, but will be hard at work in Mrs. B's Warehouse. She was honored in November at the opening of The Rose, a classic downtown theater of the 20's that has been magnificently restored, but that would have been demolished had she not saved it.
Cửa hàng chính của NFM, trên khu đất rộng 64 mẫu Anh cách Centre khoảng hai dặm về phía bắc, mở cửa từ 10 giờ sáng đến 9 giờ tối các ngày trong tuần, từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều vào thứ Bảy, và từ trưa đến 6 giờ chiều vào Chủ nhật. Rose Blumkin – "Mrs. B" – nay đã 102 tuổi, nhưng sẽ làm việc hăng say tại Mrs. B's Warehouse. Bà đã được vinh danh vào tháng 11 tại lễ khai trương The Rose, một nhà hát cổ điển ở trung tâm thành phố từ thập niên 20, đã được trùng tu lộng lẫy, nhưng lẽ ra đã bị phá bỏ nếu bà không cứu nó.
Ask her to tell you the story.
Hãy nhờ bà kể cho các bạn nghe câu chuyện đó.
Borsheim's normally is closed on Sunday but will be open for shareholders and their guests from 10 a.m. to 6 p.m. on May 5th. Additionally, we will have a special opening for shareholders on Saturday, the 4th, from 6 p.m. to 9 p.m. Last year, on Shareholders Day, we wrote 1,733 tickets in the six hours we were open - which is a sale every 13 seconds. Remember, though, that records are made to be broken.
Borsheim's thường đóng cửa vào Chủ nhật nhưng sẽ mở cửa đón các cổ đông và khách của họ từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều ngày 5 tháng 5. Ngoài ra, chúng tôi sẽ có một buổi mở cửa đặc biệt dành cho cổ đông vào thứ Bảy, ngày 4, từ 6 giờ chiều đến 9 giờ tối. Năm ngoái, vào Ngày Cổ đông, chúng tôi đã viết 1.733 hóa đơn trong sáu giờ mở cửa – tức là cứ 13 giây lại có một giao dịch bán. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng kỷ lục sinh ra là để bị phá vỡ.
At Borsheim's, we will also have the world's largest faceted diamond on display. Two years in the cutting, this inconspicuous bauble is 545 carats in size. Please inspect this stone and let it guide you in determining what size gem is appropriate for the one you love.
Tại Borsheim's, chúng tôi cũng sẽ trưng bày viên kim cương được mài giác lớn nhất thế giới. Mất hai năm để chế tác, món đồ trang sức chẳng mấy nổi bật này có kích thước 545 carat. Xin mời các bạn xem xét kỹ viên đá này và để nó dẫn dắt các bạn trong việc xác định kích cỡ viên đá quý nào là phù hợp cho người mình yêu.
On Saturday evening, May 4, there will be a baseball game at Rosenblatt Stadium between the Omaha Royals and the Louisville Redbirds. I expect to make the opening pitch - owning a quarter of the team assures me of one start per year - but our manager, Mike Jirschele, will probably make his usual mistake and yank me immediately after. About 1,700 shareholders attended last year's game. Unfortunately, we had a rain-out, which greatly disappointed the many scouts in the stands. But the smart ones will be back this year, and I plan to show them my best stuff.
Vào tối thứ Bảy, ngày 4 tháng 5, sẽ có một trận bóng chày tại Rosenblatt Stadium giữa Omaha Royals và Louisville Redbirds. Tôi dự kiến sẽ ném quả bóng khai cuộc – việc sở hữu một phần tư đội bảo đảm cho tôi một suất ném chính mỗi năm – nhưng huấn luyện viên của chúng ta, Mike Jirschele, có lẽ sẽ lại mắc sai lầm thường lệ của mình và rút tôi ra ngay sau đó. Khoảng 1.700 cổ đông đã đến xem trận đấu năm ngoái. Thật không may, trận đấu bị hủy vì mưa, điều khiến rất nhiều tuyển trạch viên trên khán đài vô cùng thất vọng. Nhưng những người khôn ngoan sẽ quay lại năm nay, và tôi dự định cho họ thấy những cú ném đỉnh nhất của mình.
Our proxy statement will include information about obtaining tickets to the game. We will also offer an information packet this year listing restaurants that will be open on Sunday night and describing various things that you can do in Omaha on the weekend.
Tài liệu ủy quyền biểu quyết của chúng tôi sẽ có thông tin về cách nhận vé xem trận đấu. Năm nay chúng tôi cũng sẽ cung cấp một bộ tài liệu thông tin liệt kê các nhà hàng sẽ mở cửa vào tối Chủ nhật và mô tả những hoạt động khác nhau mà các bạn có thể làm ở Omaha vào cuối tuần.
For years, I've unsuccessfully tried to get my grade school classmate, "Pal" Gorat, to open his steakhouse for business on the Sunday evening preceding the meeting. But this year he's relented. Gorat's is a family-owned enterprise that has thrived for 52 years, and if you like steaks, you'll love this place. I've told Pal he will get a good crowd, so call Gorat's at 402-551-3733 for a reservation. You'll spot me there - I'll be the one eating the rare T-bone with a double order of hash browns.
Nhiều năm nay, tôi đã không thành công trong việc thuyết phục người bạn học cùng trường tiểu học của mình, "Pal" Gorat, mở cửa nhà hàng bít tết của ông ấy vào tối Chủ nhật trước đại hội. Nhưng năm nay ông ấy đã xuôi lòng. Gorat's là một doanh nghiệp gia đình đã phát đạt suốt 52 năm, và nếu các bạn thích bít tết, các bạn sẽ mê nơi này. Tôi đã nói với Pal rằng ông ấy sẽ đón được đông khách, vì vậy hãy gọi cho Gorat's theo số 402-551-3733 để đặt chỗ. Các bạn sẽ nhận ra tôi ở đó – tôi sẽ là người ăn món T-bone tái với suất khoai tây chiên băm gấp đôi.
Warren E. Buffett
Chairman of the Board
Warren E. Buffett
Chủ tịch Hội đồng quản trị
March 1, 1996
Ngày 1 tháng 3 năm 1996
Nhận bài mới qua email
Mỗi khi có bài hoặc video mới, một thư ngắn gửi tới hộp thư của bạn. Không gửi quảng cáo, huỷ lúc nào cũng được. Thích đọc bằng ứng dụng thì dùng RSS.
Email chỉ dùng để gửi bài mới. Chi tiết ở Chính sách bảo mật.